Showing posts with label Cổ tích Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Cổ tích Việt Nam. Show all posts

Wednesday, September 14, 2016

Ngày xửa ngày xưa, Vua Hùng thứ 18 có một cô công chúa Mị Nương đã đến tuổi cập kê, cô hiền lành, nết na ngoan ngoãn lại cầm kì thi họa nên rất được vua cha yêu mến, muốn tìm cho con một tấm chồng ưng ý để con gái có một cuộc sống hạnh phúc.
Vua cho lan truyền lệnh ban kén rể khắp mọi nơi. Lệnh ban ra, các hào kiệt tráng sĩ ai cũng nô nức chuẩn bị đến kinh thành muốn ngỏ ý lấy công chúa nhưng chưa ai lọt được vào mắt xanh của nàng.
Bỗng một hôm có hai chàng trai đến xin hỏi cưới công chúa. Cả hai đều to khỏe cường tráng.

Người thứ nhất là Sơn Tinh, chàng có sức mạnh rất lớn, chàng chỉ tay đến đâu rừng núi mọc lên tới đó, trập trùng những núi những rừng, chim muông hót véo von, các con vật chạy nhảy tung tăng.

Người thứ hai tự xưng là Thủy Tinh, chàng có sức mạnh không kém gì Sơn Tinh, Thủy Tinh vẫy tay về phía đông, phía đông nước cuộn trào, vẫy tay về phía tây, phía tây nổi lên ba ba, thuồng luồng kín mặt nước.

Vua Hùng thấy ai cũng tài giỏi, không biết phải gả công chúa cho ai, bèn cho họp lại các tướng sĩ hỏi bàn ý kiến và đưa ra phán quyết:

Hai ngươi ai cũng đều tài giỏi, ta cũng không biết nên gả công chúa cho ai, nên ta ra chỉ như này.

Sáng sớm ngày mai, ai đem được các lễ vật này đến trước ta sẽ gả công chúa cho người đó.

Lễ vật có: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nẹp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.
Sơn Tinh Thủy Tinh vâng lệnh vua ban nhanh chóng về nhà chuẩn bị. Sơn Tinh nhanh chóng tìm được đủ lễ vật, sáng hôm sau mang đến và rước công chúa về.

Thủy Tinh lùng sục khắp nơi cuối cùng cũng hoàn thành, nhưng tiếc thay, Thủy Tinh đến chậm một bước, lúc Thủy Tinh đến Sơn Tinh đã mang công chúa đi mất.

Thủy Tinh thấy thế thì nổi trận lôi đình, quyết đuổi theo Sơn Tinh để cướp lại công chúa.

Thủy Tinh đi đến đâu giông bão nổi đến đó, mây đen kéo đến, sấm chớp giật đùng đùng, mưa xối xả.

Bao nhiêu binh tướng cá, ba ba, thuồng luồng, rùa nổi hết lên mặt nước, phun nước ầm ầm. Thủy Tinh dâng nước lũ nhằm nhấn chìm Sơn Tinh.
Sơn Tinh cũng không vừa, chàng bốc từng dãy núi, dời từng ngọn đồi chặn dòng nước lũ, Thủy Tinh cứ dâng nước lên bao nhiêu Sơn Tinh lại làm phép cho đồi núi cao lên bấy nhiêu.

Hai bên giao chiến một hồi, Thủy Tinh thấm mệt còn Sơn Tinh thì vẫn rất mạnh mẽ.

Cuối cùng đuối sức, Thủy Tinh chấp nhận thua cuộc rút lui, không dám tranh giành Mị Nương.

Kể từ đó Mị Nương và Sơn Tinh sống một cuộc sống hạnh phúc.

Tuy nhiên vẫn ôm mối hận, Thủy Tinh cứ tháng 7 âm lịch hàng năm lại cho dâng nước lũ đánh Sơn Tinh nhưng chưa năm nào thắng.

Lời bàn:
Sơn Tinh chính là tượng trưng cho người dân Việt Nam chúng ta kiên cường bất khuất, còn Thủy Tinh chính là đại diện cho thiên tai bão lũ hàng năm.

Đất nước ta tuy phải gánh chịu thời tiết khắc nghiệt nhưng người dân Việt Nam vẫn luôn kiên cường đấu tranh và khắc phục thiên tai để bảo vệ cuộc sống của chính mình và cho cả các thế hệ tương lai.

Sunday, September 11, 2016

Ngày xưa, có một bạn tên là Tích Chu. Bố mẹ Tích Chu mất sớm, Tích Chu ở với bà.

Hàng ngày bà phải làm việc quần quật kiếm tiền nuôi Tích Chu, có thức gì ngon bà cũng dành cho Tích Chu. Ban đêm, khi Tích Chu ngủ thì bà thức quạt. Thấy bà thương Tích Chu, có người bảo:
- Bà ơi! Lòng bà thương Tích Chu cao hơn trời, rộng hơn biển. Lớn lên, Tích Chu sẽ không khi nào quên ơn bà.

Thế nhưng lớn lên, Tích Chu lại chẳng thương bà. Bà thì suốt ngày làm việc vất vả, còn Tích Chu suốt ngày rong chơi.

Vì làm việc vất vả, ăn uống lại kham khổ nên bà bị ốm. Bà lên cơn sốt nhưng chẳng ai trông nom.
Tích Chu mãi rong chơi với bạn bè, chẳng nghĩ gì đến bà đang ốm. Một buổi trưa, trời nóng nực, cơn sốt lên cao, bà khát nước quá liền gọi:
- Tích Chu ơi, cho bà ngụm nước. Bà khát khô cổ rồi!

Bà gọi một lần, hai lần…rồi ba lần nhưng vẫn không thấy Tích Chu đáp lại.

Mãi sau Tích Chu thấy đói mới chạy về nhà kiếm cái ăn. Tích Chu ngạc nhiên hết sức thấy bà biến thành chim và vỗ cánh bay lên trời.
Tích Chu hoảng quá kêu lên:
- Bà ơi! Bà đi đâu? Bà ở lại với cháu. Cháu sẽ mang nước cho bà, bà ơi!

- Cúc cu … cu! Cúc … cu cu! Chậm mất rồi cháu ạ, bà khát quá không thể chịu nổi phải hóa thành chim để bay đi kiếm nước. Bà đi đây, bà không về nữa đâu!

Nói rồi chim vỗ cánh bay đi.
Tích Chu hoảng quá chạy theo bà, cứ nhằm theo hướng chim bay mà chạy.

Cuối cùng Tích Chu gặp chim đang uống nước ở một dòng suối mát. Tích Chu gọi:
- Bà ơi! Bà trở về với cháu đi. Cháu sẽ đi lấy nước cho bà, cháu sẽ giúp đỡ bà, cháu sẽ không làm bà buồn nữa!

- Cúc …cu…cu, muộn quá rồi cháu ơi! Bà không trở lại được nữa đâu!

Nghe chim nói, Tích Chu òa khóc, Tích Chu thương bà và hối hận. Giữa lúc đó, có một bà tiên hiện ra, bà bảo Tích Chu:
- Nếu cháu muốn bà trở lại thành người thì cháu phải đi lấy nước suối Tiên cho bà cháu uống. Đường lên suối Tiên xa lắm, cháu có đi được không?

Nghe bà Tiên nói, Tích Chu mừng rỡ vô cùng, vội vàng hỏi đường đến suối Tiên, rồi chẳng một phút chần chừ, Tích Chu hăng hái đi ngay.

Trải qua nhiều ngày đêm lặn lội trên đường, vượt qua rất nhiều nguy hiểm, cuối cùng Tích Chu đã lấy được nước suối mang về cho bà uống. Được uống nước suối Tiên, bà Tích Chu trở lại thành người và về ở với Tích Chu.
Từ đấy, Tích Chu hết lòng yêu thương chăm sóc bà.
Ngày xửa ngày xưa, có một cậu bé thông minh tên là Mã Lương. Cậu rất thích vẽ nhưng không có tiền mua bút. Cha mẹ em lại mất sớm, em phải đi kiếm củi để sống qua ngày.

Thế rồi một hôm, cậu đi ngang qua nhà của một ông quan. Thấy hoạ sỹ đang vẽ tranh, cậu ghé lại sát cửa sổ để nhìn:
– Bác ơi! Cháu rất thích vẽ, nhưng không có tiền mua bút, bác cho cháu một chiếc bút vẽ bác nhé!

Tên quan và gã hoạ sỹ nghe thế phá lên cười và nói:
– Mày nghèo đừng có mà đua đòi học vẽ, lo mà đi bán củi.

Mã Lương nghe vậy tức tối bỏ đi. Tuy nhiên, cậu không từ bỏ niềm đam mê của mình. Những khi lên núi, cậu đều lấy cành cây vẽ lại phong cảnh xung quanh từ ngọn cỏ cho đến chim chóc.

Có người nhìn thấy Mã Lương vẽ nên tò mò hỏi:
– Mã Lương ơi! Cháu chăm chỉ học vẽ thế, để sau này đi phục vụ cho nhà quan phải không?

Nhưng cậu lại lắc đầu:
– Không bác ạ! Cháu sẽ không bao giờ dùng tài năng của mình để đi làm cho nhà quan. Cháu chỉ vẽ vì người nghèo thôi!

Và rồi một đêm nọ, khi đang mơ màng nằm ngủ thì bỗng trong nhà ánh lên một hào quang rực rỡ kì lạ. Trong đó, có một cụ già râu tóc bạc phơ với đôi mắt hiền từ xuất hiện.

Cụ cho em một cây bút vẽ và dặn dò:
– Ta cho con cây bút thần này, có nó cháu sẽ vẽ rất nhiều phép màu và quyền năng từ cây bút. Nhưng phải ghi nhớ: “ Chỉ vẽ để giúp đỡ người nghèo khó và vì dân nghèo mà cầm bút”.

Khi tỉnh giấc, em tưởng đâu là mình nằm mơ, nhưng khi nhìn xuống tay thì thấy cây bút thần.

Mã Lương lập tức trổ tài hội hoạ của mình, cậu vẽ một chú chim thì bỗng nhiên chim trong ảnh bay lên và cất tiếng hót:
– Đây đúng là một cây bút thần.

Và thế là ngày nào cậu bé Mã Lương cùng dùng bút để vẽ cho người nghèo. Nhà nào không có trâu em vẽ trâu, thiếu ruộng em vẽ ruộng ...

Tiếng đồn về Mã Lương ngày càng vang xa, chẳng mấy chốc truyền đến tai tên quan xấu xa. Hắn sai lính bắt cậu bé về vẽ cho mình:
– Ông có giết tôi thì tôi cũng không vẽ cho ông.

Vì thấy Mã Lương kiên quyết không chịu vẽ cho mình, hắn đã giam em vào ngục tối, không cho ăn uống gì cả.

Thế nhưng, hắn lại đâu biết rằng nhờ có cây bút trong tay, mà Mã Lương đã vẽ ra những chiếc bánh thơm ngon và đang thưởng thức chúng.

Biết được, tên quan xấu xa sai quân lính vào trong ngục lấy chiếc bút thần. Thế nhưng, khi tới nơi thì không thấy Mã Lương ở đâu cả, chỉ còn mỗi chiếc thang mà em vẽ đang dựa vào đó.

Tên quan sai người bắt em, nhưng cậu bé đã cao chạy xa bay cùng với con ngựa mà em vẽ ra.
Ngày xửa ngày xưa, lâu lắm rồi, hằng ngày có bác nông dân ra đồng cùng với con trâu của mình.

Rồi một hôm có một con cọp từ trong rừng sâu đi ra, thấy bác nông dân và con trâu đang cày dưới ruộng.

Trâu cặm cụi đi từng bước, làm việc rất chăm chỉ, và mệt nhọc, nhưng cứ đều đặn, thỉnh thoảng Trâu lại bị bác nông dân quất một roi vào mông.

Cọp ta rình từ xa và lấy làm ngạc nhiên lắm, trong bụng nhất định tìm hiểu cho ra lý do tại sao Trâu làm việc siêng năng như vậy mà vẫn phải ăn đòn roi.

Chờ đến trưa, bác nông dân nghỉ và mở cày ra khỏi Trâu, Cọp liền đi lại gần Trâu hỏi:
- Này Trâu, trông anh khỏe thế, sao lại để cho lão già kia đánh đập khổ đau như vậy?

Trâu thong thả trả lời khe khẽ vào tai Cọp:
- Ông ấy là chủ của tôi,  là Người, Cọp hiểu không. Chủ tôi tuy trông có phần nhỏ con, nhưng vì là Người nên có trí khôn, anh Cọp ạ!

Cọp không hiểu, tò mò hỏi thêm:
- Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?

Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua loa cho xong:
- Đây là điều bí mật, trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì lại hỏi trực tiếp Người ấy!

Nghe vậy, Cọp thong dong rảo bước lại gần chỗ bác nông dân và rụt rè hỏi:
- Tôi nghe Trâu nói Ông có trí khôn. Vậy trí khôn của Ông để ở đâu, lấy ra cho tôi xem một chút có được không?

Bác nông dân suy nghĩ một hồi rồi đáp:
- À, đúng rồi, trí khôn tôi có nhiều lắm, mà bữa nay phải làm ruộng, nên tôi cất trí khôn ở nhà rồi. Ðể tôi về lấy cho Cọp xem nghen. Nếu Cọp thích, tôi sẽ cho Cọp thử một ít.

Được bác nông dân mời mọc như vậy, Cọp mừng lắm và nói với bác nông dân rằng: "Ông về nhà nhanh nhanh lên để lấy trí khôn ra cho tôi xem ra sao?".

Bác nông dân đồng ý, giả bộ rảo bước định đi, rồi làm như sực nhớ ra điều gì, bác bèn nói với Cọp:
- Này Cọp à, vì chúng ta mới quen nhau, e rằng nếu tôi đi khỏi đây, lỡ Cọp ăn mất trâu của tôi thì sao?

Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì bác nông dân liền nói tiếp:
- Tôi nói cho Cọp nghe, hãy đồng ý như vầy nhé: Cọp chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này, một lát thôi, tôi sẽ chạy về nhà thật nhanh và đem trí khôn ra liền. Vì như vậy tôi mới yên tâm không sợ Cọp ăn Trâu của tôi.

Vì muốn nhanh chóng được xem trí khôn ra sao, Cọp nhận lời ngay lập tức. Bác nông dân bèn lấy dây thừng trói Cọp thật chặt vào một gốc cây.

Xong xuôi bác cẩn thận lấy rơm quấn đầy xung quanh toàn thân Cọp, sau đó châm lửa đốt và nói lớn rằng:
- Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!

Cọp bị cháy, nóng quá cố gắng vẫy vùng. Trâu thấy vậy thích thú quá, lên cơn cười rũ rượi, ngả nghiêng, không may răng trên va trúng vào khối đá rất cứng gần đó làm gãy hết nguyên hàm trên, không còn một chiếc nào cả.

Lửa vẫn cháy, mãi tới khi cháy sâu tới trong, làm dây thừng cột Cọp bị đứt, Cọp vội vã và cố gắng dùng sức di chuyển qua lại để đứng lên, rồi với sức lực còn lại, nó ba chân bốn cẳng chạy thẳng một mạch vào rừng sâu, không dám ngoái nhìn lại.

Kể từ đó, Cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn sọc đen, vốn là dấu tích những vết đốt cháy của Người, còn Trâu thì con nào cũng không có răng ở hàm trên cả.

Saturday, September 10, 2016

Ngày xửa ngày xư­a có 2 vợ chồng dân cày đi làm người ở cho 1 gia đình phú ông giàu có từ khi còn nhỏ. 2 vợ chồng sống rất hiền từ như­ng đã ngoài 50 tuổi rồi mà vẫn chưa có một mụn con.

Một hôm bầu trời nắng rất gay gắt, ngư­ời vợ phải đi vào trong rừng kiếm củi cho gia đình phú ông, lúc quá khát nước mà người vợ ko tìm đâu ra một chút nư­ớc, sau cùng không còn cách nào khác bà đành phải liều mình uống chút nư­ớc ở trong cái sọ ngư­ời tại dưới 1 gốc cây to.

Một điều rất lạ kì, khi uống nước trong sọ vào, bà cảm thấy rất khoan khoái hết sức, mát tới tận ruột gan. Và từ đó bà đã có thai, nhưng một thời gian sau thì người chông mất. Trải qua 9 tháng 10 ngày mang thai bà đã sinh ra 1 cục thịt tròn long lóc có hình dạng như­ cái sọ, có đầy đủ mặt mũi, miệng, tai, như­ng ko hề có chân tay.

Người chồng bà thì đã qua đời, lại sinh ra 1 quái thai, bà rất phiền lòng, định mang chôn sống nó đi. Như­ng bỗng cục thịt cất tiếng gọi bà:

– Mẹ ơi! Con vẫn là con ng­ười đấy mẹ ạ. Mẹ đừng có vứt bỏ con đi mà khổ thân con ! Bà rất xúc động, ôm cục thịt vào trong lòng và nâng niu cho bú. Bà đặt tên cho đứa con mình là Sọ Dừa.

Phú ông nghe tin bà sinh ra một quái thai liền bắt bà mang đi chôn sống, như­ng bà ko chịu. Phú ông bèn đuổi bà ra ở chiếc lều tranh tại góc vư­ờn.

Như­ng hằng ngày Phú ông vẫn bắt bà phải đi làm cho nhà ông. Mỗi ngày đi làm về bà mang phần cho Sọ Dừa 1 nắm cơm. Sọ Dừa lớn nhanh như thổi và càng ngày càng hiểu biết, khôn ngoan.

Hàng xóm và những ng­ười xung quanh lâu ngày cũng quen dần và ngày một yêu quý Sọ Dừa hơn.

Hàng ngày, khi người mẹ đi làm cho nhà phú ông thì Sọ Dừa biến thành 1 cậu bé rất xinh xắn, quét dọn nhà cửa ngăn nắp đâu vào đấy, sau đó lại chui vào cái sọ như­ cũ. Lúc đầu bà mẹ thấy rất lạ kì, như­ng theo dõi mãi ko thấy chuyện gì cho nên cũng đành thôi.

Một hôm bà mẹ buồn rầu nói với Sọ Dừa rằng:

– Nhà người ta, khi con lên 7 lên 8 đã biết cách dắt bò dắt trâu đi chăn, con thì mẹ không trông đợi đư­ợc gì! Phú ông có 1 đàn dê, cần tìm ngư­ời nào đó mang đi chăn mà mẹ vẫn chư­a tìm đ­ược ai.

Sọ Dừa nói với mẹ:

– Mẹ ơi, con có thể chăn được, mẹ nói với Phú ông cho con đi chăn đi !

Thấy Sọ Dừa quả quyết là mình sẽ làm tốt công việc, bà mẹ mạnh dạn đi sang nhà phú ông để thưa chuyện. Ban đầu phú ông còn có chút hơi e ngại nhưng về sau ông ta cũng đồng ý cho Sọ Dừa được chăn thử một vài hôm, nếu làm tốt ông ta mới mướn.

Người mẹ thấy phú ông chập nhận cho Sọ Dừa chăn thử nên rất vui mừng. Quả nhiên Sọ Dừa chăn rất giỏi, con nào con nấy cũng no căng bụng béo tốt. Phú ông rất ưng vì đàn dê của ông ta ngày càng béo, Sọ Dừa thì lại ăn rất ít, ngày chỉ hai nắm cơm nhỏ.

Sọ dừa đem đàn dê đi chăn ở dãy núi khá xa làng, hàng ngày phú ông giao cho ba người con gái của ông ta thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Hai người chị thì lúc nào cũng xa lánh Sọ Dừa, mang cơm đến họ chỉ để dưới gốc cây gần đó rồi gọi, mặc cho Sọ Dừa tự lăn tới ăn. Còn cô con gái út, lần nào cô cũng mang cơm tới tận nơi cho Sọ Dừa.

Một hôm, cô út mang cơm cho Sọ Dừa, khi cô lại gần chỗ Sọ Dừa và bầy dê thì cô nghe văng vẳng tiếng sáo véo von, khi trầm khi nhặt làm cho cô cảm thấy xao xuyến.

Không thấy Sọ Dừa đầu, cô chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú tuổi trạc mười bảy đang nằm trên chiếc võng đào miệng thổi sáo.

Thấy có người đến chàng trai lại trở lại hình dáng Sọ Dừa lăn lông lốc. Kể từ khi đó, cô út biết rằng Sọ Dừa không phải người trần, cô đem lòng thầm yêu trộm nhớ Sợ Dừa, có thức ăn ngon, cô lại mang thật nhiều tới cho Sọ Dừa.

Thế rồi, bỗng một hôm, Sọ Dừa đòi mẹ đi tới nhà phú ông xin hỏi một trong ba người con gái phú ông làm vợ. Bà mẹ đang uống giở hụm nước cũng phải phì cười nói:

– Con ơi, con gái phú ông cả ba đều xinh đẹp, ai lại chấp nhận lấy mày, nhiều trai làng hỏi mà ông ấy còn không ưng.

Sọ Dừa vẫn tha thiết năn nỉ mẹ mình. Để chiều lòng đứa con, bà cũng đành phải kiếm một buồng cau rồi liều mình sang hỏi nhà phú ông. Vừa nghe xong bà trình bày, phú ông cười mỉa một cái rồi nói:

– Nếu như nhà mụ đủ khả năng sắm đủ những lễ vật mà ta yêu cầu thì ta sẽ gả một trong ba đứa cho con trai mụ. Lễ vật gồm có một chĩnh vàng cốm, 10 tấm lụa đào, 10 con heo thật béo, 10 thùng rượu tăm.

Và phải có một căn nhà ngói năm gian để cho con gái ta về ở, chứ ta không thể để nó sống trong ngôi nhà rách nát của mụ được.

Phú ông nghĩ trong bụng rằng thách thế thì nó có làm cả đời cũng chả đủ tiền sắm lễ. Bà mẹ trở về nhà, bảo với con trai:

– Con à, phú ông thách cưới cao lắm, nhà mình không sắm nổi đâu con. Thôi con từ bỏ ý định cưới con gái phú ông đi.

Nghe xong người mẹ kể về những lễ vật phú ông thách. Sọ Dừa nói:

– Mẹ cứ yên tâm, con sẽ có cách lo đầy đủ lễ vật.

Quả nhiên ngày hôm sau, Sọ Dừa đã sắm đầy đủ tất cả những lễ vật mà phú ông yêu cầu, bà mẹ tỉnh dậy mà cứ tưởng mình nằm mơ vì căn nhà lá đã biến mất được thay thế bằng ngôi nhà ngói 5 gian đẹp đẽ, bà thì đang nằm trên một chiếc giường có đủ chăn hoa nệm gấm.

Ngoài sân, mấy chục người hầu hạ quần áo đầy đủ màu sắc đã sẵn sàng cùng hai mẹ con sang nhà phú ông hỏi vợ.

Đến lúc này phú ông không còn cách để từ chối, nhưng ông ta nghĩ có đủ lễ vật thì ba đứa con gái ông ta chắc chẳng có đứa nào đồng ý lấy thằng người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm đấy cả.

Phú ông cho gọi ba cô con gái ra hỏi lần lượt:

– Nào con gái lớn của ta, con có đồng ý lấy Sọ Dừa con trai mụ ta làm chồng không

Cô ta bĩu môi một cái rồi quay ngoắt đi vào trong phòng

Phú ông hỏi tiếp cô con gái thứ hai:

– Giờ đến con đấy con gái, con có đồng ý lấy thằng Sọ Dừa làm chồng không?

Cô ta cũng như người chị mình, cười một cái khinh bỉ rồi buông câu:

– Con có điên đâu cha mà đi lấy thằng đó làm chồng

Đến cô con gái thứ ba, phú ông hỏi:

– Giờ chỉ còn con thôi con gái, con có đồng ý không?

Cô út nhỏ nhẹ đáp:

– Dạ thưa cha, con đồng ý!

Phú ông rất ngạc nhiên miệng há hốc, nhưng ông ta giờ đây phải đồng ý vì lễ vật đã đủ, người cũng đã thuận.

Chiều hôm ấy, Sọ Dừa đón dâu về nhà. Lễ cưới được tổ chức linh đình, Sọ Dừa cho mời tất cả lối trên xóm dưới tới dự, tiếng cười nói rôm rả.

Đến tối, khi các cây nến đã thắp sáng trưng nhà trên nhà dưới thì không ai thấy Sọ Dừa đâu cả, từ phòng bên bước ra là một chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú với nét mặt sáng ngời, chàng trai nắm tay cô dâu và nói:

– Thưa các cụ, thưa các bác các anh chị cùng bà con hai họ, tôi là Sọ Dừa. Vợ chồng tôi xin được cảm tạ tấm lòng của mọi người đã đến chung vui cùng chúng tôi trong ngày trọng đại này.

Bà mẹ ôm trầm lấy cô con dâu, mừng rỡ không nói lên lời. Tất cả mọi người ai nấy cũng rất vui mừng, mừng vì Sọ Dừa được làm người, mừng vì cô con gái út phú ông lấy được người chồng tốt. Riêng chỉ có hai cô chị là tức tối đố kị với cô em gái mình.

Sau khi cưới vợ, Sọ Dừa rất chăm chỉ dùi mài kinh sử, đến kì thi bảng, Sọ Dừa đã đỗ trạng nguyên và được nhà vua rất trọng dụng vì chàng tài trí hơn người.

Một thời gian sau thì người mẹ già yếu qua đời, quan trạng Sọ Dừa từ kinh đô trở về chịu tang mẹ được ít hôm sau thì nhận được chiếu chỉ của nhà vua phải đi sứ.

Trước khi đi, chàng đưa cho người vợ một con dao, một hòn đá lửa, 2 quả trứng gà và dặn dò kĩ phải luôn mang 2 thứ đó bên mình để phòng thân, sẽ có lúc dùng tới.

Hai người chị gái đem lòng ghen ghét đố kị đã lâu vì thấy em gái lấy được người chồng vừa tuấn tú, lại giỏi giang quyền cao chức trọng. Giờ chúng lập mưu hãi hại em chiếm chồng.

Một hôm, hai người chị rủ em gái mình đi chơi thuyền trên biển, khi thuyền đã ra xa, hai người chị đẩy thuyền em ra xa, giấu hết tay chèo làm cho thuyền cô em út chìm nghỉm.Một con cá kình đã nuốt chửng cà thuyền và người vào trong bụng nó.

Nhớ tới 3 vật người chòng đã dặn kĩ mang theo bên mình, cô lấy con dao đâm vào bụng cá, con cá vùng vẫy một lúc rồi nổi lềnh phềnh trên mặt nước.

Xác cá trôi vào bờ một hòn đảo hoang, cô khoét bụng cá rồi chui ra. Sẵn sao, cô xẻ thịt cá ra làm nhiều miếng, phần thì phơi khô, phần cô muối để ăn dần.

Cô dùng hòn đá lửa đánh để lấy lửa sưởi ấm và nấu chín thức ăn. Hai quả trứng gà trong bọc đủ ngày đủ tháng đã nở thành hai con gà một trống một mái.

Ngày tháng dần trôi, cô một mình sống trên hoang đảo, con gà mái đẻ rất nhiều trứng, đàn gà cứ thế mà đông dần. Bỗng một buổi chiều, cô nghe thấy con gà trống gáy:

– ó ò o!… phải thuyền quan Trạng rước cô tôi về!

Cô chạy ra thì thấy có một chiếc thuyền lớn đang tiến tới đảo. Cô mừng lắm vì thấy mình cũng sắp được cứu trở đất liền.

Con thuyền mỗi lúc một gần, nhìn lên mui thuyền cô nhận ra ngay đấy chính là chồng mình Sọ Dừa. Gặp nhau hai vợ chồng ôm trầm lấy mừng rỡ không nói lên lời.

Hai vợ chồng lên thuyền trở về nhà, được nghe vợ kể lại chuyện, Sọ Dừa căm phẫn lắm. Vừa về tới nơi, Sọ Dừa giấu vợ vào phòng không cho ai biết, bên ngoài chàng cho mở tiệc linh đình, mời cả hai họ lẫn bà con lối xóm tới dự mừng ngày trở về.

Hai người chị gái thấy chồng em trở về nên ăn mặc rất lộng lẫy, trang điểm kĩ càng sang dự tiệc nhằm lôi cuốn sự chú ý của Sọ Dừa. Vừa ngồi vào mâm, cả hai đã thi nhau kể việc em mình bị chết đuối ra sao, hai chị cố gắng cứu em thế nào nhưng vẫn không được.

Sọ Dừa vẫn chỉ cười không nói gì, đang lúc tiệc rất vui, Sọ Dừa đứng lên xin phép mọi người được vào trong buồng dẫn ra một người bạn để chào hai họ và dân làng.

Trong buồng, cô út bước ra trước sự ngỡ ngàng. Hai người chị thấy em gái bủn rủn chân tay, nhân lúc mọi người đang mừng rỡ cô út vẫn còn sống trở về thì cả hai lẻn ra ngoài trốn đi biệt tích.

Truyện cổ tích Việt Nam Sọ Dừa là một câu chuyện hay với nhiều tình tiết lôi cuốn, kể về cuộc đời nhiều biến cố của anh chàng Sọ Dừa, qua đó cũng cho chúng ta nhiều bài học thật quý báu về luật nhân quả và giá trị nhân văn ở đời.
Xa xưa, từ lâu lắm rồi có một vị vua cùng ba cô công chúa rất xinh đẹp sống trong một tòa lâu đài uy y tráng lệ trên một miền đất xa. Vào một ngày nọ, trong đầu vua cha bỗng nảy ra một ý định là gả chồng cho ba cô con gái của mình khi vị vua này đang ngồi suy nghĩ về ba cô con gái.

Sau một thời gian vua cha loan tin về việc kén rể cho ba cô con gái của mình, có rất nhiều chàng trai có ý muốn được kết hôn cùng ba cô công chúa xinh đẹp.

Đến thời điểm lựa chọn chàng trai phù hợp cho con gái, vị vua đưa ra một thách thức với các chàng trai. Vị vua nói, “Ta sẽ mang 3 hòn ngọc quý giá nhất của ta đem tới suối nước sâu giữa làng. Chúng ngươi, các chàng trai trong cuộc thi kén rể này sẽ gặp nhau tại đó và trong 3 ngày chàng trai nào có thể tìm được hòn ngọc của ta sẽ trở thành chồng của con gái ta.”

Hôm sau, nhà vua lựa chọn 3 hòn ngọc – 1 hòn ngọc lục bảo, 1 hòn ngọc rubi, và 1 viên kim cương – và đem chúng vào trong làng. Vua cầm 3 viên ngọc quý trong tay và đi chung quanh là các chàng trai trong cuộc thi kén rể. Đầu tiên vua giả vờ làm rơi một hòn ngọc lục bảo, tiếp sau đó vua làm rơi tiếp một viên ngọc rubi, và cuối cùng là viên kim cương. 1 người con trai khôi ngô tuấn tú đã lượm được hòn ngọc lục bảo. Tiếp theo đó 1 chàng hoàng tử nước nọ giàu có đã nhìn thấy viên ngọc Rubi nên đã cúi xuống nhặt được. Vua cha rất lấy làm mừng vui. Nhưng mà ngay sau đó 1 con ếch đã nhảy về phía viên kim cương và nhặt được nó. Ếch đem viên kim cương tới gặp vị vua và nói, “Tôi là hoàng tử Ếch. Tôi đã nhặt được viên kim cương này, nay tôi xin được cầu hôn với nàng công chúa thứ 3.”

Lúc vua cha nói với cô công chúa thứ ba Tina về việc một con ếch đã nhặt được viên kim cương và tự xưng là hoàng tử Ếch muốn cầu hôn cô, Tina đã khước từ lời cầu hôn của hoàng tử Ếch. Tất cả thần dân ở trong làng khi nghe tới chuyện kì lạ này, ai cũng cười rất hả hê và chế giễu. “Mọi người có ai đã bao giờ nghe thấy tin này chưa?” Họ thì thào tám chuyện với nhau: “Công chúa thứ ba Tina sắp sửa đính hôn với 1 con ếch! ha ha”

Cô công chúa thứ ba Tina đã cảm thấy choáng váng. Cô kêu than, “Trời ơi! Tôi là con người bất hạnh nhất trên cái thế gian này.” Công chúa ngã khụy xuống sàn nhà và khóc, nước mắt cô đã rơi xuống rất nhiều. Không có một ai là thương cô cả, Tina cho là như vậy.

Công chúa Tina giấu bạn bè và ngậm nỗi đau ở trong lòng. Công chúa ngày ngày cứ đắm chìm trong nỗi buồn và cô đơn. 2 người chị gái của cô có lễ thành hôn rất vui và linh đình. Tiếng chuông nhà thờ vang to với hạnh phúc của đôi lứa và niềm vui khắp làng.

Sau cùng, Tina đã rời khỏi lâu đài. Công chúa đã chốn chạy khỏi hoàng cung và tự lập sống một mình ở trong một khu rừng. Công chúa ăn rất đơn giản và đạm bạc, hàng ngày cô uống nước suối, ăn quả rừng, tự mình dọn dẹp giặt đồ, tự ngủ và tự chăm lo cho cuộc sống của bản thân. Thế nhưng sống một mình nên công chúa cảm thấy rất cô đơn và buồn bã.

Vào một ngày nọ, khi công chúa đi tắm. Nước hồ rất lạnh, hồ cũng rất sâu. Công chúa Tina bơi một lúc khá lâu và cô bắt đầu cảm thấy thấm mệt. Trong lúc bơi vào bờ, công chúa đã bị “chuột rút”, cô mất bình tĩnh và vùng vẫy giữa hồ sâu. Khi công chúa không thể bơi được vào bờ và sắp chết đuối, một con ếch bất ngờ xuất hiện dùng hết sức của mình đưa công chúa vào bờ. Chính chàng Ếch đã cứu công chúa thoát khỏi cái chết.

Công chúa hỏi:

– “Tại sao Ếch lại cứu sống tôi ?”

Chàng Ếch trả lời:

– “Bởi vì công chúa hiện còn rất trẻ, công chúa cần phải sống và công chúa cần được sống”

– “Không tôi không thể”, công chúa nói với vẻ mặt rầu rĩ. “Tôi là con người đau khổ nhất thế gian”

– “Công chúa hãy kể cho tôi nghe xem nào”, chàng Ếch động viên.

Vậy là họ bắt đầu ngồi cùng nhau kể chuyện. Hai người họ ngồi cùng nhau rất nhiều giờ đồng hồ tâm sự với nhau. Hoàng tử Ếch lăng nghe công chúa kể và chàng đã hiểu mọi chuyện. Sau đó chàng kể cho công chúa nghe về sự cô đơn và cuộc đời bất hạnh của chính chàng. Cũng kể từ khi đó, công chúa và hoàng tử Ếch ngày càng quấn quýt và yêu quý nhau hơn. Hàng ngày họ tâm sự, vui đùa và cùng nhau làm việc.

Một ngày nọ, khi hai người họ đang ngồi kể chuyện với nhau bên hồ, công chúa bỗng cúi xuống hôn lên trán hoàng tử Ếch một nụ hôn. Bất chợt, chàng Ếch đã biến thành một chàng trai. Hoàng tử vui mừng bồng công chúa Tina lên và nói:

“Công chúa đã làm cho ta trở thành hình dạng người bằng một nụ hôn. Mặc dù vẻ ngoài ta là một con ếch nhưng công chúa đã nhìn được tấm lòng chân thật của ta. Kể từ giây phút này, ta đã được hoàn toàn tự do. Ta đã thoát khỏi lời nguyền của mụ phù thủy rằng ta chỉ có thể trở lại bộ dạng người khi được một cô gái hôn ta bằng trái tim chân tình”

Hoàng tử Ếch và công chúa Tina quay trở về lâu đài và làm lễ thành hôn. Hai người chị của Tina tỏ vẻ ra không bằng lòng. Người chồng đẹp trai đã lơ người vợ và không nói chuyện với cô ta, còn người chồng giàu có thì cười chế nhạo vợ mình và ban cho cô ta mệnh lệnh suốt đời. Còn công chúa Tina và hoàng tử Ếch thì đã sống bên nhau một cuộc sống vô cùng hạnh phúc.
Ngày xửa ngày xưa, thưở ấy ở nước ta đang cần người hiền tài giúp nước, các quan trong triều cũng đã già cả rồi, sức không còn nhiều, nhà Vua bèn sai một viên quan đi dò la khắp nước để tìm ra người tài giỏi cùng vua lo toan việc nước. Viên quan đã đi khắp nơi, ngựa cũng đi nhiều cũng đã gầy róc đi, nhưng vẫn chưa tìm được người ưng ý. Đi đến đâu ông cũng ra những câu đố hóc búa để tìm người tài nhưng chưa ai giải được câu đố của ông.

Một hôm, viên quan đi qua một cánh đồng làng kia, ngựa đi lâu cũng đã mệt, ông ngồi nghỉ ngơi bên vệ đường, tiện cho ngựa ăn ít cỏ. Thấy hai cha con đang làm ruộng, người cha gầy gò đang đánh trâu cày, đứa con chừng 7 – 8 tuổi đang đập đất. Ông bèn hỏi:

Này ông kia! Trâu của lão cày một ngày được mấy đường?

Người cha ngơ ngác suy nghĩ không biết trả lời quan sao cho phải, thì đứa con đã nhanh nhảu:

Quan cho con hỏi quan trước đã: Nếu quan trả lời được ngựa của quan đi một ngày được mấy bước thì con sẽ cho quan biết trâu nhà con một ngày cày được mấy đường.

Viên quan nghe thấy cậu bé đáp thế thì ngạc nhiên lắm, lúng túng không biết phải làm sao, trong bụng quan thì mừng thầm “Chắc chắn cậu bé này lớn lên sẽ là người tài rồi, ta việc chi phải tìm kiếm gì cho mệt nữa”. Thế rồi quan hỏi tên họ quê quán của hai cha con rồi phi ngựa một mạch về tâu vua.

Thấy viên quan hào hứng trở về, lại tâu đã tìm được người tài thì mua mừng lắm, nhưng để biết cậu có thật thông minh, vưa bèn sai người mang cho làng đó ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực, ra lệnh năm sau làng phải nuôi cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con. Nếu không nộp đủ thì làng phải chịu tội.

Dân làng nghe chiếu vua ban thì mừng ít mà lo thì nhiều, mừng vì làng cũng được vua để tâm tới, ắt sau này sẽ được hỗ trợ, nhưng ba trâu đực kia đẻ sao được chín trâu cái đây? Bao nhiêu cuộc họp làng mở ra, bao nhiêu ý kiến vẫn không giải quyết được vấn đề nhà vua ban, chưa bao giờ làng lại hối hả và sục sạo như thế, tất cả cho đó như là một tai vạ sắp xảy ra. Việc đến tai em bé con người thợ cày. Em liền bảo cha:

Cha ơi, chẳng mấy khi được lộc vua ban, cha cứ thưa với làng ngả thịt hai trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một trận cho sướng miệng. Còn một trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng bán đi làm lệ phí cho hai cha con ta lên đường trẩy kinh.

Trâu vua ban mà dám ăn thịt thì chẳng phải một năm nữa mà mai cả làng sẽ phải chịu tội luôn đấy con ạ. Con đừng có dại.

Cậu bé cười và quả quyết:

Cha cứ tin ở con, con biết tự lo liệu mà, thế nào cũng xong xuôi.

Người cha tặc lưỡi ra trình làng, cả làng ngờ vực: “bao nhiêu các bô lão ở đây còn không tìm ra cách giải quyết, không lẽ nào thằng bé đó biết được?”. Làng bắt cha con phải làm giấy cam đoan, xong đâu đấy mới vui vẻ ngả trâu ra thịt.

Sau đó mấy hôm, hai cha con khăn gói lên đường tiến kinh. Đến hoàng cung, cậu bé bảo cha đứng ở ngoài đợi cậu. Nhân lúc mấy tên lính canh vô ích cậu lẻn vào sân rồng khóc ỏm tỏi. Nhà Vua và các đại thần đang chầu triều nghe thấy tiếng khóc thì lấy làm lạ. Vua sai lính điệu vào phán hỏi:

Thằng bé kia mày có việc gì? Sao lại đến đây mà khóc?

Em bé khúm núm đáp:

Tâu đức vua, mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con nên con buồn lắm. Dám mong đức vua phán bảo cha con sinh em cho con được nhờ.

Nghe nói, vua và các triều thần đều bật cười. Vua lại phán:

Mày muốn có em thì phải kiếm vợ khác cho bố mày, chứ bố mày là giống đực làm sao mà đẻ được!

Em bé bỗng tươi tỉnh:

Vâng, thế mà vua lại lệnh cho làng con nuôi ba con trâu đực cho đẻ thành chín con để nộp? Giống đực thì làm sao mà đẻ được kia chứ!

Vua lúc này mới nhớ ra, cười bảo:

Cái đó là ta thử thôi mà? Thế làng các ngươi không biết đem trâu ấy ra thịt mà ăn với nhau à?

Tâu đức vua, làng chúng con sau khi nhận được trâu và gạo nếp biết là lộc của vua ban, cho nên đã làm cỗ ăn mừng với nhau rồi.

Vua và các đại thần gật gù tán thưởng: “Thằng bé quả thật thông minh”, chưa dừng ở đó, vua vẫn muốn thử cậu thêm. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở nhà công quán, vua cho người mang tới một con chim sẻ, lệnh cho hai cha con phải dọn thành ba mâm cỗ, cậu bé đứng dậy lấy một chiếc kim khâu đưa cho sứ giả và bảo:

Phiền ngài cầm chiếc kim này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao thật sắc để xẻ thịt chim.

Vua nghe sứ giả tâu lại thế thì vui mừng khôn xiết, phục hẳn cậu. Vua cho người mời hai cha con vào cung ban thưởng hậu hĩnh.

Hồi đó, có một nước láng giềng lăm le muốn chiếm bờ cõi của nước ta. Vua nước nọ mới bàn tính sang thăm dò nước ta xem có nhân tài hay không, bèn cho sứ giả sang tặng vật phẩm cho nước ta, cũng đưa ra một câu đố cho ta giải. Họ đưa sang một con ốc vặn dài thật dài, nhưng bị rỗng hai đầu, đố làm sao xâu một sợi chỉ mảnh xuyên qua đường ruột ốc được.

Sau khi nghe sứ thần trình bày mục đích cuộc đi sứ, vua quan đưa mắt nhìn nhau. Nếu như không trả lời được câu đố oái oăm ấy thì tức là nước ta đã tỏ ra thua kém nước họ, ắt hẳn họ sẽ cho người cho quân sang gây chiến. Các đại thần ai nấy đều vò đầu suy nghĩ, người thì dùng miệng hút mong cho chỉ lọt qua, người lại bôi sáp vào chỉ cho cứng để dễ xâu,…nhưng tất cả mọi cách đều vô dụng. Cuối cùng, triều đình đành tìm cách mời sứ thần tạm nghỉ ở công quán để có thì giờ đi hỏi ý kiến em bé thông minh nọ.

Lúc đó em bé đang chơi với bạn ở sau nhà, thấy sứ thần trình bày ngọn ngành câu đố của sứ giả ngoại quốc thì hát lên một câu:

Tang tính tang! Tính tình tang!
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng,
Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang
Tang tình tang…

Rồi bảo: Ông cứ về tâu với đức vua như thế, ắt sẽ được.

Viên quan sung sướng lật đật trở về tâu vua. Vua và các triều thần nghe nói như mở cờ trong bụng. Ai nấy đều vui mừng, sứ giả thấy ta xâu được chỉ qua con ốc dễ dàng thì lấy làm nể trọng lắm, bèn ngậm ngùi xin về.

Sau đó, vua phong cho cậu bé làm trạng nguyên. Vua xây dinh thự cho cậu ở một bên hoàng cung cho em ở để tiện hỏi han.
Ngày xưa, lâu lắm rồi, có một người trẻ tuổi tên là Thạch Sanh. Thạch Sanh rất to lớn, khoẻ mạnh. Cha mẹ Thạch Sanh mất sớm. Thạch Sanh sống một mình nơi ven rừng, dưới một cây đa cổ thụ. Thạch Sanh nghèo lắm, chỉ có một cái rìu để đốn củi đem đổi lấy gạo ăn, và một chiếc khố. Tuy nghèo nhưng Thạch Sanh rất vui vẻ và tử tế, hay giúp đỡ mọi người.

Thạch Sanh có một người bạn tên là Lý Thông. Lý Thông ở gần chợ với một người mẹ già. Lý Thông tính tình rất gian xảo, hay lường gạt. Thạch Sanh thường đến nhà Lý Thông chơi vì cha mẹ mất sớm, Thạch Sanh thương mến mẹ Lý Thông như mẹ của mình và coi Lý Thông như anh ruột, gọi là anh kết nghĩa.

Nơi làng Lý Thông ở có một con xà tinh rất hung dữ. Nhà vua đã nhiều lần sai quân lính tới giết nó nhưng không sao giết nổi. Nhà vua đành phải xây cho nó một cái miếu thờ và mỗi năm phải hứa cúng cho nó một người để nó ăn thịt. Được như vậy nó mới không phá phách và để yên cho dân chúng làm ăn. Mỗi năm, người ta bốc thăm, ai trúng thì bị làm mồi cho xà tinh ăn. Nhà vua hứa ai giết được xà tinh sẽ ban thưởng.

Rủi cho Lý Thông, anh ta bị rút thăm trúng làm người đem cúng cho xà tinh ăn thịt. Biết Thạch Sanh là người thật thà lại ở ven rừng không biết nhiều tin tức, Lý Thông nghĩ cách gạt em kết nghĩa của mình.

Lý Thông mời Thạch Sanh đến nhà ăn cơm. Sau khi ăn xong, Lý Thông rót rượu mời Thạch Sanh uống rồi nói:

- Tối nay đến phiên anh phải canh gác miếu xà tinh nhưng mẹ anh lại không khoẻ trong người, anh nhờ chú đi thế giùm được không?

Vốn thương mến mẹ con Lý Thông, Thạch Sanh Sẵn sàng đi thế. Nửa đêm, xà tinh tới miếu để ăn thịt người. Một luồng gió hôi tanh thổi lên, cây cối ngã rào rào. Thạch Sanh bỗng trông thấy một con rắn lớn hả miệng hung dữ. Thạch Sanh vội giơ rìu lên chém.

Sau một trận đánh, Thạch Sanh giết được xà tinh. Anh ta chặt lấy đầu rồi nổi lửa đốt xác. Xác xà tinh cháy rụi. Từ trong đám tro bỗng hiện ra một cây cung và mấy mũi tên bằng vàng.

Thạch Sanh đeo cung tên vào người rồi xách đầu xà tinh đem về. Hai mẹ con Lý Thông đang ngủ say, yên trí là Thạch Sanh đã bị xà tinh ăn thịt mất rồi. Nghe tiếng Thạch Sanh gọi cửa, hai người sợ hãi tưởng là hồn ma Thạch Sanh về báo oán. Lý Thông vội quì xuống nói:

- Xin chú hãy tha cho tôi. Mẹ con tôi hứa sẽ lễ cầu siêu và mỗi năm cúng giỗ cho chú.

Thạch Sanh nghe vậy, biết là Lý Thông gạt mình. Nhưng vốn tốt bụng, Thạch Sanh không giận, nói:

- Em vẫn còn sống đây mà. Xà tinh đã bị em giết chết đem đầu về đây.

Lý Thông thấy Thạch Sanh không có vẻ giận, vội mở cửa cho Thạch Sanh vào. Qua cơn hoảng sợ, Lý Thông nghĩ ngay ra được cách gạt Thạch Sanh. Anh ta làm ra vẻ sợ hãi, lo lắng:

- Chết! Chú không biết là con xà tinh này đã được vua phong thần hay sao mà giết nó. Chú mang tôi to lắm rồi, phải trốn ngay đi.

Thạch Sanh tưởng thật, vội trốn vào rừng. Còn Lý Thông mang đầu xà tinh lên kinh đô báo tin cho vua biết chính mình đã giết được xà tinh. Nhà vua mừng rỡ, ban thưởng cho Lý thông nhiều vàng bạc và phong cho hắn chức một quan võ

Hang sâu thăm thẳm, không ai dám xuống. Thạch Sanh thấy vậy bèn bảo Lý Thông thòng dây cho mình leo xuống.

Xuống tới đáy hang, Thạch Sanh đốt đuốc lên và dò tìm theo dấu máu khô tới một căn phòng. Thạch Sanh trông thấy một cô gái đang ngồi rầu rĩ trước cửa. Đoán chừng là công chúa, Thạch Sanh nói:
- Xin công chúa đừng sợ. Hãy đi theo tôi.

Công chúa cho Thạch Sanh biết Đại Bàng có tài biến hóa và rất hung dữ. Nó bị mũi tên vàng của Thạch Sanh băn trúng, bị thương nặng đang nằm trong phòng.

Thạch Sanh dẫn công chúa đến chỗ dây thòng, cột dây vào người công chúa rồi giật dây báo hiệu cho Lý Thông kéo lên. Không ngờ Lý Thông thấy đã cứu được công chúa bèn thu dây lại, không thả xuống cho Thạch Sanh lên nữa. Lý Thông lại sai lính khiêng đá to lấp cửa hang luôn.

Thạch Sanh dò dẫm trong hang tìm lối ra. Nơi một ngõ ngách, Thạch Sanh thấy một cái cũi sắt, trong có một người con trai đang ngồi rầu rĩ. Thạch Sanh hỏi chuyện. Chàng ta nói:

- Tôi là Thái Tử con vua Thủy Tề. Tôi bị Đại Bàng bắt giam ở đây đã lâu. Cũi này làm cho phép của tôi hết hiệu lực. Nhờ người cứu giùm.

Thạch Sanh phá cũi cho Thái Tử ra. Nhờ phép thần thông của Thái Tử giúp, Thạch Sanh ra được khỏi hang. Thái Tử dắt Thạch Sanh xuống thủy cung gặp vua Thủy Tề. Vua Thủy Tề cảm ơn Thạch Sanh đã cứu con mình, tặng cho Thạch Sanh một cây đàn thần và đưa Thạch Sanh trở lên mặt đất.

Thạch Sanh về kinh đô tìm Lý Thông để hỏi cho ra lẽ tại sao lại đối xử với mình thật xấu. Nào ngờ, Lý thông đổ cho Thạch Sanh tội ăn cắp vàng bạc rồi giam vào ngục. Trước đó, anh ta đã cho công chúa uống thuốc làm cho câm để công chúa khỏi kể chuyện lại với vua cha. Anh ta tự nhận là mình đã cứu được công chúa và giết chết Đại Bàng. Vua tưởng thật, thưởng cho anh ta thật nhiều vàng bạc và cho làm quan to.

Thạch Sanh bị giam trong ngục bèn lấy đàn thần ra gẩy. Tiếng đàn thần vang tới tai Lý Thông thì nghe như những lời trách móc kẻ hại người. Tiếng đàn lọt vào cung cấm đến tai công chúa thì nghe như những lời than. Công chúa tự nhiên hết câm, đi tìm vua cha. Công chúa cho vua biết chính Thạch Sanh mới là người cứu mình.

Vua cho thả Thạch Sanh khỏi ngục và bắt giam Lý Thông chờ ngày xử tội. Thạch Sanh là người tốt bụng, quì xuống xin vua tha tội cho Lý Thông. Mẹ con anh ta bị đuổi về làng cũ. Giữa đuờng đi, cả hai bị sét đánh chết.

Thạch Sanh đuợc vua gả công chúa. Khi vua chết, Thạch Sanh nối ngôi làm vua. Thạch Sanh là một ông vua tài giỏi và nhân đức, đem lại hạnh phúc cho toàn dân.

Friday, September 9, 2016

Ngày xưa ở vùng Cao Bằng có một chàng trẻ tuổi, nay đây mai đó làm nghề chài lưới, tên là Triều. Gia sản của anh không có gì ngoài bộ đồ nghề. Nhưng tính anh vốn hay thương người. Mỗi lần đánh được nhiều cá, anh thường đổi lấy gạo đem chu cấp cho những người túng thiếu mà anh gặp. Vì vậy người nghèo khổ trong vùng, ai cũng mến anh.

Ở Cao Bằng một thời gian, Triều lại dời sang đánh cá ở vùng Thái Nguyên. Ở đây, anh lại cứu giúp mọi người không tiếc sức. Một hôm, anh không được mẻ cá nào. Nhưng lúc về dọc đường, anh bỗng thấy một ông cụ đang nằm run rẩy dưới gốc cây. Động lòng thương, anh cởi ngay chiếc áo đang mặc đắp vào người ông cụ.

Bẵng đi một dạo, một hôm anh đang buông chài giữa sông, bỗng nghe trên núi cao có tiếng đàn văng vẳng. Anh dừng lại nghe một cách say sưa. Qua ngày hôm sau, anh lại được nghe tiếng đàn trên núi như hôm qua. Hôm sau nữa, cũng từ trên ngọn núi cũ, tiếng đàn quen thuộc lại bay đến tai anh. Lấy làm lạ, anh vội thu xếp đồ nghề của mình, rồi tìm đường trèo lên núi, quyết tìm cho ra người gảy đàn. Lần theo tiếng đàn, anh vạch cỏ rẽ lau tiến bước. Cuối cùng, đến một bãi rộng, anh thấy một cụ già đang ngồi trên phiến đá. Ông cụ mải mê gảy đàn không biết có người tới gần. Triều nhận ra khuôn mặt cụ già này rất giống với ông cụ nằm ở gốc cây hôm nọ. Chờ cho bản đàn dứt hẳn, anh đến trước mặt hỏi:

- Thưa cụ, cụ là ai mà ngồi đánh đàn ở đây?

Ông cụ ngước mắt nhìn anh một cách âu yếm, rồi chỉ vào một phiến đá trước mặt, bảo:

- Ta ngồi đợi con đây! Con trèo núi có mệt lắm không? Con hãy ngồi xuống đây nghỉ một tí.

Triều đỡ chén nước ở tay ông cụ, đã nghe ông cụ hỏi:

- Con có nhớ ta không?

- Có - Triều đáp ngay - Cụ có phải là người nằm ở gốc cây đa đầu làng hôm nọ không?

- Đúng - Ông cụ trả lời - Hôm nọ, con đành chịu mình trần để nhường áo cho ta. Tấm lòng này thật là ít có. Nay ta muốn đền cho con một chiếc áo khác.

Nói xong, cụ cởi chiếc áo đang mặc quàng vào mình Triều rồi biến mất.

Từ ngày được áo của Tiên cho, Triều mới biết đấy không phải là chiếc áo thường mà là một bảo vật, có phép làm cho người ta tàng hình. Mỗi lần mặc áo, không một ai nhận ra có anh ở trước mặt. Triều mừng quá, từ đấy anh đi chu du khắp nơi. Anh thường mặc áo rồi tìm đến nhà bọn giàu có, đường hoàng đi vào tận buồng chúng, lấy gạo tiền cho những người nghèo. Anh kín đáo trị tội những kẻ bất lương, bạc ác. Có những người vì quá cơ cực đang nằm lả bên vệ đường mà thở than thì bỗng thấy có những quan tiền trước mặt. Có những tên quan đang nọc người ra đánh giữa công đường thì chính hắn bỗng bị quất vào lưng đau quằn lên, nhưng ngoảnh lại thì vẫn không hề tìm thấy ai. Nhiều sự việc giống nhau xảy ra, làm cho lời đồn đại lan khắp cả một vùng. Người lo, kẻ mừng, nhưng ai cũng tin rằng Trời Phật đã có con mắt.

Cứ như thế Triều đi khắp nơi và giúp đỡ người cùng khổ. Một hôm, anh tìm đến đất kinh kỳ. Mặc áo vào, anh tha hồ đi đó đây cho thoả mắt. Hết vào nhà bọn quyền quý, anh lại vào cung cấm là nơi từ xưa không một người nào như anh dám bước chân đến. Thấy người nghèo khó nhan nhản khắp phố phường, anh lẻn vào kho tàng nhà Vua lấy của ra phân phát cho họ. Vì thế kho công luôn luôn bị hao hụt, nhưng không một ai tìm ra thủ phạm cả. Trong khi đó thì khắp kinh đô đồn ầm lên rằng có một vị Tiên thường cứu giúp những người đói khổ và trừng trị những tên gian tà. Ở đâu Tiên cũng có mặt, nhưng lại không "xuất đầu lộ diện" bao giờ.

Về phía Triều, anh vẫn ngày ngày làm công việc cứu giúp dân nghèo, coi đây là phận sự của mình, mà không hề băn khoăn đến chuyện báo đáp. Anh đã làm cho bọn giàu sang xiết bao sợ hãi, lo lắng khi thấy tiền của chúng tự nhiên không cánh mà bay, mặc dầu trong nhà ngoài ngõ đều có người canh gác cẩn mật.

Nhưng một hôm, sau khi trừng trị một tên quyền quý ỷ thế đánh người, anh vội lẻn ra khỏi nhà hắn ngay vì thấy kẻ hầu người hạ của hắn nghe tiếng động đổ xô tới rất đông. Giữa lúc vội vàng, anh vướng vào một chiếc gai tre ở bờ giậu làm cho chiếc áo toạc mất một miếng. Sợ rằng để vậy có thể bị lộ nên anh đã dùng một mụn giẻ vá lại. Sau đó, hàng ngày anh lại vào kho nhà Vua tiếp tục phận sự của mình.

Từ ngày thấy kho luôn bị hao hụt, nhà Vua hết sức lo lắng. Vua hạ lệnh cho bọn quan coi kho phải tìm bắt cho kỳ được tên trộm bí mật, nếu không sẽ trị tội không tha. Bọn này nhiều phen cố sức rình mò nhưng chỉ hoài công vô ích. Tiền bạc trong kho cứ vơi dần mà chúng vẫn không tìm ra dấu vết gì đáng kể. Sau cùng, chúng sai thửa một kiểu bẫy lưới rất nhạy để chụp vào những nơi mà chúng nghi ngờ.

Hôm ấy, bọn quan coi kho bỗng thấy có một con bươm bướm trắng ngoài cổng bay vào kho. Bướm bay đi dạo lại những đĩnh bạc trắng xoá, rồi bướm lại thủng thỉnh bay ra. Lập tức chúng chụp ngay lưới xuống chỗ có bướm. Và thế là Triều bị bắt. Chỉ vì miếng vải vá vào chiếc áo tàng hình khiến anh bị lộ. Bắt được Triều, bọn quan coi kho mừng lắm, liền giải anh lên Vua. Vua sai bỏ ngục để chờ xét xử.

Hồi ấy, có ông Vua một nước láng giềng từ lâu vẫn nuôi ngầm mưu mô đánh chiếm nước ta. Giữa lúc Triều bị hạ ngục, thì hàng vạn binh mã của nước láng giềng cũng đang ùn ùn kéo sang. Nhà Vua đã cho quân đội ra chống giữ, nhưng đánh trận nào thua trận ấy, không sao ngăn cản được kẻ địch tiến như vũ bão. Tình hình bỗng trở nên nguy ngập. Tin cấp báo từ biên giới một ngày đưa về không biết bao nhiêu chuyến ngựa trạm, làm cho kinh đô nháo nhác. Nghe được tin này, Triều liền bảo quan coi ngục tâu Vua cho mình được đi dẹp giặc cứu nước. Nhà Vua mừng quá, vội sai tháo xiềng cho anh, và gọi anh đến hỏi:

- Nhà ngươi cần bao nhiêu binh mã?

- Tâu bệ hạ - anh đáp, chỉ cần một mình tôi cũng có thể đuổi được giặc dữ. Chỉ xin bệ hạ cho tôi một thanh gươm.

Vua liền cởi gươm của mình trao cho Triều và phong anh là Hộ quốc tướng quân, Vua còn ra lệnh cho quân đội phải tuân theo lệnh anh.

Trước ngày lên đường, những người nghèo khổ nghe tin anh được tha và phong tướng đi đánh giặc, đều tìm đến cảm ơn và tình nguyện đi theo. Triều cho sắp xếp thành đội ngũ và cùng kéo nhau lên đường.

Lúc đến vùng quân giặc đang chiếm đóng. Triều mặc ngay chiếc áo tàng hình vào người đi thẳng vào trại giặc. Chỉ một lát sau, anh chém chết tên chỉ huy toán quân tiên phong. Bọn giặc mất tướng như rắn không đầu, bỏ chạy tán loạn. Những người đi theo Triều chỉ việc chia nhau đón khắp các nẻo tóm cổ đưa về. Đến những trại khác của giặc, Triều cũng làm như vậy. Không bao lâu cả đội tiên phong tinh nhuệ của giặc bị tiêu diệt và bị bắt sống, không sót một tên. Các đội quân khác còn lại kinh hoàng, cho là bên phía Đại Việt có vị thần thiêng trợ chiến nên bao nhiêu tướng tài của mình đều bị chém đầu. Thấy quân sĩ ngã lòng, tên Vua láng giềng đành hạ lệnh rút lui. Từ đấy biên giới lại vô sự. Khắp nơi ai nấy ca ngợi công lao của Triều.

Lúc Triều kéo quân khải hoàn, Vua khen ngợi anh hết lời. Vua phong cho anh làm quan đại thần, cắt đất đai huyện cho anh ăn lộc, lại gả con gái cho anh làm vợ. Từ đấy người ta quen gọi anh là Quan Triều. Ngày nay ở Cao Bằng có đền thờ Quan Triều.

== Hết ==

Ngày xửa ngày xưa, có một người trải đã nhiều kiếp, kiếp nào từ bé đến lớn cũng giữ mình đức hạnh và thành bậc chân tụ Cứ luân hồi chuyển kiếp như vậy liên tiếp đến 9 lần, nhưng chưa kiếp nào được thành Phật. Đến kiếp thứ 10, Đức Thích Ca muốn thử lòng, bắt vào đầu thai làm con gái một nhà họ Mãng ở nước Cao Lỵ

Họ Mãng đặt tên nàng là Thị Kính. Lớn lên, nàng tài sắc nết na lại hiếu thảo hết lòng. Khi đến tuổi lấy chồng, nàng được bố mẹ gả cho thư sinh Sùng Thiện Sĩ. Sùng Thiện Sĩ rất đẹp trai, chăm học. Hai vợ chồng thật là trai tài gái sắc ăn ở với nhau rất mực kính aí và hòa thuận. Một đêm, Thiện Sĩ ngồi đọc sách, Thị Kính ngồi may bên cạnh. Thiện Sĩ bỗng thấy mệt mỏi, bèn ngả lưng xuống giường, kê đầu lên gối vợ truyện trò rồi thiếp ngủ. Thi Kính thương chồng học mệt nên lặng yên cho chồng ngủ. Nàng ngắm nhìn khuôn mặt tuấn tú của chồng, bỗng nhận ra ở cằm chồng có một sợi râu mọc ngược. Sẵn con dao nhíp trong thúng khảo đựng đồ may, Thị Kính liền cầm lên kề vào cằm chồng định tiả sợi râụ Bỗng Thiện Sĩ chợt tỉnh, nhìn thấy vợ cầm dao kề vào cổ mình, nghi vợ chủ trương làm hại , liền vùng dậy nắm lấy cổ tay Thị Kính la lên:

"Nàng định cầm dao giết tôi lúc tôi đang ngủ ử?".

Thị Kính đáp: "Không phải đâụ Thấy chàng có sợi râu mọc ngược, thiếp định tiả nó đi, kẻo trông xấu xí lắm!".

Nhưng trong cơn nghi ngờ và hoảng hốt, chồng nhất định không tin. Giữa lúc đó, ông bà Họ Sùng nghe tiếng cãi nhau, vội lại hỏi nguyên dọ Nghe con trai kể, ông bà tin ngay, khăng khăng đổ tội cho Thị Kính toan giết chồng rồi lập tức cho mời ông bà họ Mãng sang trách móc và trả lại con. Thị Kính không biết giải tỏ sao được nỗi lòng oan khổ của mình, nàng cắn răng chịu tủi nhục từ giã nhà họ Sùng để về nhà cha mẹ Về ở với cha mẹ, Thị Kính lúc nào cũng sầu phiền. Nỗi oan khổ chẳng còn biết cùng ai thổ lộ Nàng bèn quyết tâm đi tu để trước là báo đáp ân sâu của cha mẹ, sau là tẩy rửa nỗi oan khiên. Nghĩ rằng, nếu trình thưa với cha me ý định của mình thì cha mẹ không cho đi nên đang đêm, nàng cải trang thành nam tử và trốn khỏi nhà với tấm chân thành của người tìm chân lý. Lại một lần nữa, Thị Kính bị mang tiếng đồn là bỏ nhà theo trai trong khi thật sự nàng tìm đến chùa Vân Tự tu hành.

Sư cụ chùa Vân Tự không biết là gái bèn nhận cho làm tiểu, đặt tên là Kính Tâm. Từ đó Kính Tâm nương náu cửa thiền, lòng vui với đạo nên khuây khỏa được sầu phiền. Tu hành chưa được bao lâu thì một tai vạ lại đến với Kính Tâm .

Trong làng có Thị Mầu, con gái của một phú ông, đi lễ chùa, thấy Kính Tâm thì đem lòng yêu trộm. Đã có lần Thị Mầu nói rõ lòng mình với Kính Tâm nhưng thị vô cùng thất vọng vì Kính Tâm vẫn cứ thản nhiên. Càng ngày, Thị Mầu càng say mệ Quen thói trăng hoa, Thị Mầu bèn tư thông với một người đầy tớ trong nhà, không ngờ thị mang thai và bị làng phạt vạ. Thị Mầu bèn đổ riệt cho tiểu Kính Tâm. Vì thế tiểu Kính Tâm bị làng đòi đến tra khảọ Nàng không biết biện bạch ra sao để gỡ mối oan này nên đành cam chịu sự đánh đập tàn nhẫn.

Sư cụ thấy tiểu bị đánh đòn đau, thương tình, kêu xin với làng nộp khoán. Vì sợ ô danh chốn thiền môn nên dù thương xót Kính Tâm, sư cụ cũng phải để Kính Tâm ra ở mái Tam Quan chứ không được ở trong chùa nữạĐủ ngày tháng, Thị Màu sanh một đứa con traị Phú ông bắt thị đem đứa bé trả cho cha là Kính Tâm. Kính Tâm đang tụng kinh, thấy tiếng trẻ khóc, nhìn ra thì thấy Thị Mầu đem con bỏ đó rồi đị Động lòng từ bi, nàng ra ẵm lấy đưá bé vàchăm lo nuôi nấng hết lòng.

Ngày ngày nàng phải bế nó đi xin sữa ở đầu làng cuối xóm chịu bao nhiêu tiếng cười chệ Sau ba năm, đứa bé đã khôn lớn, vẻ mặt rất khôi ngô, tính nết ngoan ngoãn giống hệt cha nuôi thì cũng là lúc Kính Tâm đạt cái chí của mình sau những ngày đầy oan khổ. Bà chỉ bị yếu qua loa rồi chết. Trước khi nhắm mắt, Kính Tâm dặn đò đứa bé, bà lại viết 1 phong thư giao cho nó cầm để lại cho cha mẹ

Đứa bé đang than khóc bên xác cha nuôi thật là bi thảm, chợt nhớ lời cha dặn, vội lên chùa trên báo cho sư Cụ biết. Sư vãi được cụ sai ra khâm liệm thi hài mới hay Kính Tâm là đàn bà. Tin này tung ra, cả làng đổ đến chùa đông như hộị Nỗi oan tình của bà được tỏ và khi lá thư của bà về đến quê thì ai nấy lại đều biết bà không phải là gái giết chồng. Thiện Sĩ vội theo ông bà họ Mãng tới chùa Vân Tự làm lễ ma chaỵ Ai nấy đều nhận thấy rằng sư chịu đưng và nhẫn nhục của nàng từ bấy đến nay quả là cùng cực. Sư cụ làm lễ giải oan. Làng bắt phú ông phải chi phí tang ma và Thị Mầu phải tang phục đưa chồng.

Giữa lúc cử hành đàn chay, một đám mây ngũ sắc, giữa trời từ từ hạ xuống trước đàn lễ. Đức Thích Ca Mâu Ni hiện ra, Ngài nhận thấy Kính Tâm là người tu hành đắc đạo nên cho bà làm Phật Quan Âm và cho toàn gia bà được siêu thăng, linh hồn được về gặp nhau nơi cực lạc. Riêng Thiện Sĩ, thấy rõ nông nỗi vợ, sau khi chôn cất Kính Tâm xong, chàng xin ở lại chùa tu đến hết đời.

== Hết ==
Ngày xưa, có một người đánh cờ tướng rất cao tên là Trương Ba. Chưa có một tay cờ nào địch lại nổi anh ta. Một hôm, có người đánh cờ với Trương Ba, bị dồn vào thế bí, ngồi nghĩ mãi không biết đi nước nào gỡ thua được, anh ta mới bảo:

"Nước cờ này chỉ có tiên cờ là Đế Thích mới có thể gỡ được, chứ người trần chơi cờ thì chỉ có nước hàng mà thôi".

Vừa lúc ấy có một ông lão ăn mày ghé vào nhà Trương Ba xin, thấy hai người đang ngồi đánh cờ, lần đến ghé mắt xem, biết người kia đang nước bí, mới xin đi thử một nước gỡ xem sao.

Trương Ba cười rồi nói:

"Cờ này chỉ có Đế Thích hiện xuống may gỡ được cùng chăng, chứ ông thì tài cờ đến đâu mà đòi thử"?

Lão ăn mày cố nài:

"Ông cứ cho tôi đi thử một nước xem sao"?

Trương Ba nhận lời, ông lão đi ngay một nước gỡ khỏi thế bí, rồi dồn luôn Trương Ba vào chỗ phải thua. Trương Ba vừa tức vừa kinh ngạc nhìn sững ông lão hồi lâu, rồi bước xuống đất mời địch thủ ngồi lên cao, sụp lạy mà nói rằng:

"Tôi dám chắc cụ là tiên cờ Đế Thích chứ chẳng phải người phàm".

Ông lão từ chối, chỉ nói mình là kẻ nghèo hèn, nhưng Trương Ba không chịu nghe cứ lạy mãi, khiến cụ già ăn mày phải thú thật:

"Tôi là Đế Thích nghe anh nhắc đến tôi, nên tôi phải đến xem anh đánh cờ ra thế nào, thấy anh quả thật là tay cờ giỏi, đáng khen. Cùng làng cờ với nhau, tôi muốn giúp anh một việc: số anh gần đến ngày chết, anh bảo cho vợ anh biết là khi anh nằm xuống rồi thì chị ấy nhớ thắp hương lên mà vái tên tôi, tôi sẽ hiện xuống cứu giúp anh sống lại".

Nói rồi vị tiên cờ biến mất, Trương Ba liền gọi vợ ra căn dặn theo đúng lời Đế Thích đã dặn.

Cách đó ít lâu, Trương Ba chết, người vợ thương khóc lo việc chôn cất, quên mất lời dặn của Đế Thích. Một tháng sau, dọn dẹp trong nhà trông thấy bàn cờ tướng, người vợ mới sực nhớ tới lời căn dặn của chồng, bèn thắp hương lên gọi tên Đế Thích. Chỉ chốc lác, Đế Thích hiện lên, người vợ kể lại sự tình rồi van lơn xin cứu cho chồng sống lại

Đế Thích nói:

"Anh Trương Ba chết đã lâu, da thịt rữa nát rồi, làm sao mà hồn nhận lại xác cho được nữa"?

Vơ Trương Ba lạy khóc mãi không cho Đế Thích đi, khẩn nài làm sao cho chồng sống lại. Đế Thích còn đang phân vân, thì hay tin lối xóm có người bán thịt heo vừa chết, mới bảo vợ Trương Ba.

"Chỉ còn cách cho hồn chồng chị nhập xác vào người bán thịt, chị có bằng lòng chăng?"

Vợ Trương Ba không còn biết tính làm sao, đành phải bằng lòng vậy.

Đế Thích bèn làm phép đem hồn Trương Ba nhập vào xác người bán thịt mà sống lại. Vợ người bán thịt mừng rỡ thấy chồng sống lại, song người bán thịt lại không nhận ra người vợ cũ mình là ai, xem tất cả chung quanh đều xa lạ. Vừa lúc ấy vợ Trương Ba đến, người bán thịt chạy ra mừng rỡ ôm lấy mà nhận là vợ mình. Vợ Trương Ba đã nghe lời Đế Thích bảo, nên cũng mừng rỡ nhận người bán thịt là chồng, rồi đưa về nhà.

Vợ người bán thịt chạy theo níu lại:

"Người này là chồng tôi sao chị lại dẫn đi"?

Vợ Trương Ba cãi lại:
"Chồng của tôi sao chị chạy theo giành"?

Rồi hai người đàn bà cãi lẫy, giành giựt, đánh nhau tranh chồng, kiện đến quan.

Quan hỏi người bán thịt nhận ai là vợ, anh ta chỉ vào vợ Trương Ba và bảo vợ cũ của mình là vợ người bán thịt ở lối xóm. Quan hỏi cách làm heo bán thịt thế nào anh ta nói không biết, hỏi đến cách đánh cờ tướng, anh ta trả lời rất thạo. Viên quan lấy làm khó xử vì hồn người này lại xác người kia, mới gọi vợ Trương Ba hỏi nhỏ xem trong khi chồng thị còn sống có làm điều gì đặc biệt không. Vợ Trương Ba thật tình kể lại việc Đế Thích xuống đánh cờ, có hứa lúc nào chồng thị chết, thì gọi đến ông sẽ cứu sống lại, nhưng rủi thị quên đi, đến khi xác chồng chết đã nát thịt rồi mới nhớ gọi đến, may có người bán thịt mới chết, ông tiên mới đem hồn Trương Ba nhập vào xác người bán thịt mới chết này. Viên quan cho đòi riêng người bán thịt đến hỏi có biết Đế Thích không, anh ta trả lời y chang như vợ Trương Ba nói, nên được xử cho về nhà Trương Ba. Người vợ anh bán thịt đành phải chịu mất chồng.

== Hết ==
Ngày xưa, có một ông quan thừa tướng sinh được người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Nàng ở cấm cung trong ngôi lầu cạnh bờ sông.

Bấy giờ có một chàng trai con nhà thuyền chài tên là Trương Chi, ngày ngày đến thả lưới kiếm ăn trên khúc sông đó. Chàng ta thường buông lưới, vừa hát. Tiếng hát rất hay, khiến cho Mỵ Nương ở trong lầu xao xuyến say mê.

Một dạo, Trương Chi đi đánh cá ở khúc sông khác. Không được nghe tiếng hát, Mỵ Nương sinh ra sầu não. Nàng bồn chồn trông đợi. Tiếng hát vẫn vắng lặng và nàng bắt đầu ốm.

Thừa tướng vội cho mời các lương y đến xem mạch, bốc thuốc. Thuốc uống đã nhiều mà bệnh Mỵ Nương vẫn không suy chuyển. Sau thừa tướng hỏi dò những người hầu hạ Mỵ Nương, mới biết là con mình ốm tương tư. Các lương y khuyên thừa tướng cho gọi anh lái đò đến.

Trương Chi được mời đến thăm Mỵ Nương. Chàng ta đội chiếc nón lá che mất khuôn mặt mình. Mỵ Nương năn nỉ mãi, phải ra lệnh, Trương Chi mới ngả nón ra. Nhưng khi nhìn thấy mặt Trương Chi, Mỵ Nương vỡ mộng, vì Trương Chi xấu xí quá. Nàng cho chàng ra về, và từ đó không còn yêu hình bóng Trương Chi nữa.

Về phần Trương Chi, từ khi trông thấy Mỵ Nương xinh đẹp, chàng ta thầm yêu nàng. Chàng tủi cho thân phận nghèo hèn của mình, buồn chán không thiết gì làm ăn nữa. Chàng hát :

Kiếp này đã dở dang nhau,
Thì xin kiếp khác, duyên sau lại lành.

Trương Chi mang mối tình hận mà chết vì tương tư.

Một dạo sau không ai còn nghe tiếng chàng hát trên sông nữa. Mỵ Nương lại nhớ tiếng hát, hỏi ra mới biết anh dân chài đã chết. Mỵ Nương sai đắp cho chàng một nấm mộ cao. Nhưng lạ thay, khi đào mộ lên, thịt xương Trương Chi đã tan rữa, duy chỉ có trái tim biến thành một khối ngọc sáng long lanh. Mỵ Nương sai người mang khối ngọc đẽo thành một cái ly nước.

Một hôm, Mỵ Nương cầm chén rót nước, thì lạ thay, hình ảnh người đánh cá chèo thuyền hiện lên chậm chậm xoay quanh trong lòng chén. Tức thì tiếng hát năm xưa cũng văng vẳng như than, như trách.

Mỵ Nương chạnh lòng nhớ lại mối tình đã qua. Một giọt nước mắt của nàng rơi xuống chén và tự nhiên chén ngọc tan ra thành nước.

== Hết ==
Ngày xưa, có Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Hai chị em gần bằng tuổi nhau. Tấm là con vợ cả. Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha Tấm cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ và đó là người rất cay nghiệt. Ngày qua ngày, Tấm phải làm lụng luôn canh, hết chăn trâu, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo, đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó thì Cám được mẹ nuông chiều, được ăn trắng mặc trơn, suốt ngày quanh quẩn ở nhà, không phải làm việc nặng.

Một hôm người dì ghẻ đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng bắt con tôm con tép. Mụ ta hứa hẹn: "Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yếm đỏ". Ra đồng, Tấm nhờ mò cua bắt ốc đã quen nên chỉ một buổi là được đầy giỏ vừa cá vừa tép, còn Cám thì đủng đỉnh dạo hết ruộng nọ sang ruộng kia, mãi đến chiều vẫn không được gì.

Thấy Tấm bắt được một giỏ đầy, Cám bảo chị:

- Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng.

Tin là thật, Tấm bèn xuống ao lội ra chỗ sâu tắm rửa. Cám thừa dịp trút hết tép của Tấm vào giỏ của mình rồi ba chân bốn cẳng về trước. Lúc Tấm bước lên chỉ còn giỏ không, bèn ngồi xuống bưng mặt khóc hu hu.

Bấy giờ Bụt đang ngồi trên tòa sen, bỗng nghe tiếng khóc của Tấm, liền hiện xuống hỏi:

- Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể lể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

- Thôi con hãy nín đi ! Con thử nhìn vào giỏ xem còn có gì nữa không?

Tấm nhìn vào giỏ rồi nói:

- Chỉ còn một con cá bống.

- Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, đáng ăn ba bát thì con ăn hai còn một đem thả xuống cho bống. Mỗi lần cho ăn con nhớ gọi như thế này:

Bống bống bang bang

Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta

Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.

Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy !

Nói xong Bụt biến mất. Tấm theo lời Bụt thả bống xuống giếng. Rồi từ hôm ấy trở đi, cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đưa ra cho bống. Mỗi lần nghe Tấm gọi, bống lại ngoi lên mặt nước đớp những hạt cơm của Tấm ném xuống. Người và cá ngày một quen nhau, và bống ngày càng lớn lên trông thấỵ

Thấy Tấm sau mỗi bữa ăn thường mang cơm ra giếng, mụ gì ghẻ sinh nghi, bèn bảo Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây bên bờ giếng nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm lấy cho thuộc rồi về kể lại cho mẹ nghe.

Tối hôm ấy mụ dì ghẻ bảo Tấm sáng mai dậy sớm chăn trâu, và dặn:

- Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu.

Tấm vâng lời, sáng hôm sau đưa trâu đi ăn thật xa. Ở nhà, mẹ con Cám mang bát cơm ra giếng cũng gọi bống lên ăn y như Tấm gọi. Nghe lời gọi, bống ngoi lên mặt nước. Mẹ Cám đã chực sẵn, bắt lấy bống đem về nhà làm thịt.

Đến chiều Tấm dắt trâu về, sau khi ăn xong Tấm lại mang bát cơm để dành ra giếng, Tấm gọi nhưng chả thấy bống ngoi lên như mọi khi. Tấm gọi mãi, gọi mãi, cuối cùng chỉ thấy cục máu nổi lên mặt nước. Biết là có sự chẳng lành cho bống, Tấm òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

- Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

- Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi ! Rồi về nhặt xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới bốn chân giường con nằm.

Tấm trở về theo lời Bụt đi tìm xương bống, nhưng tìm mãi các xó vườn góc sân mà không thấy đâu cả. Một con gà thấy thế, bảo Tấm:

- Cục ta cục tác ! Cho ta nắm thóc, ta bưới xương cho !

Tấm bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bới một lúc thì thấy xương ngay. Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào lọ và đem chôn dưới chân giường như lời bụt dặn.

Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Già trẻ gái trai các làng đều nô nức đi xem, trên các nẻo đường, quần áo mớ ba mớ bẩy dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi trẩy hội. Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó mụ lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, bảo Tấm:

- Con hãy nhặt xong cho dì chỗ gạo này rồi có đi đâu hãy đi, đừng có bỏ dở, về không có gì để thổi cơm dì đánh đó.

Nói đoạn, hai mẹ con quần áo xúng xính lên đường. Tấm ngồi nhặt một lúc, thấy suốt ruột, nghĩ rằng không biết bao giờ mới nhặt xong, bèn ngồi khóc một mình. Giữa lúc ấy Bụt hiện lên hỏi:

- Con làm sao lại khóc?

Tấm chỉ vào cái thúng, thưa:

- Dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội, lúc nhặt xong thì hội đã tan rồi còn gì mà xem.

Bụt bảo:

- Con đừng khóc nữa. Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp.

- Nhưng ngộ nhỡ chim sẻ ăn mất thì khi về con vẫn cứ bị đòn.

- Con cứ bảo chúng nó thế này:

Rặt rặt (con chim sẻ ) xuống nhặt cho tao

Ăn mất hạt nào thì tao đánh chết

Thì chúng nó sẽ không ăn của con đâu.

Tự nhiên ở trên không có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một đằng, gạo ra một nẻo. Chúng nó lăng xăng ríu rít chỉ trong một lát đã làm xong, không suy suyển một hạt. Nhưng khi chim sẻ bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại bảo:

- Con làm sao lại khóc?

- Con rách rưới quá, người ta không cho con vào xem hội.

- Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ thứ cho con trẩy hội.

Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Đào lọ thứ nhất lấy ra được một cái áo mớ ba, một cái áo xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu. Đào lọ thứ hai lấy ra được một đôi giầy thêu. Đào lọ thứ ba thì thấy một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuông đất bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn.

Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi thắng bộ vào, đoạn cưỡi lên ngựa mà đi. Ngựa phóng một chốc đã đến kinh đô. Nhưng khi phóng qua một chỗ lội, Tấm đánh rơi một chiếc giầy xuống nước không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở đám hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giầy còn lại rồi chen vào biển người.

Giữa lúc ấy thì đoàn xa giá vừa tiến đến chỗ lội. Hai con voi ngự dẫn đầu đoàn đến đấy tự nhiên cắm ngà xuống đất kêu rống lên, không chịu đi. Vua sai quân lính xuống nước thử tìm xem, họ nhặt ngay được một chiếc giầy thêu của Tấm lúc nẫy đánh rơi xuống đó. Vua ngắm nghía chiếc giầy không chán mắt. Bụng bảo dạ:" Chà, một chiếc giầy thật xinh! Người đi giầy này hẳn phải là trang tuyệt sắc".

Lập tức Vua hạ lệnh cho rao mời tất cả đám đàn bà con gái xem hội ướm thử, hễ ai đi vừa chiếc giầy thì vua sẽ lấy làm vợ. Đám hội lại càng náo nhiệt vì các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử giầy. Cô nào cô ấy lần lượt kéo vào ngôi lầu giữa bãi cỏ rộng để ướm một tí cầu may. Nhưng chẳng có một chân nào đi vừa cả. Mẹ con Cám cũng trong số đó. Khi Cám và dì ghẻ bước ra khỏi lầu thì gặp Tấm, Cám mách mẹ:

- Mẹ ơi, ai như chị Tấm cũng đi thử giầy đấy!

Mụ dì ghẻ bĩu môi:

- Con nỡm, chuông khánh còn chẳng ăn ai nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!

Nhưng khi Tấm đặt chân vào giầy thì vừa như in. Nàng mở khăn lấy luôn chiếc thứ hai đi vào. Hai chiếc giầy giống nhau như đúc. Bọn lính hầu hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn tỳ nữ rước nàng vào cung. Tấm bước lên kiệu trước con mắt ngạc nhiên và hằn học của mẹ con Cám.

Tuy sống sung sướng trong hoàng cung. Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha. Nàng xin phép vua trở về nhà để soạn cỗ cúng giúp dì. Mẹ con Cám thấy Tấm sung sướng thì ghen ghét để bụng. Nay thấy Tấm về, lòng ghen ghét lại bùng bốc lên. Nghĩ ra được một mưu, mụ dì ghẻ bảo Tấm:

- Trước đây con quen trèo cau, con hãy trèo lên xé lấy một buồng cau để cúng bố.

Tấm vâng lời trèo lên cây cau, lúc lên đến sát buồng thì ở dưới này mụ dì ghẻ cầm dao đẵn gốc. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi :

- Dì làm gì dưới gốc thế ?

- Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến cho nó khỏi lên đốt con.

Nhưng Tấm chưa kịp xé cau thì cây cau đã đổ. Tấm ngã lộn cổ xuống ao chết. Mụ dì ghẻ vội vàng lột áo quần của Tấm cho con mình mặc vào cung nói dối với vua rằng Tấm không may bị rơi xuống ao chết đuối, nay đưa em vào để thế chị. Vua nghe nói trong bụng không vui, nhưng vẫn không nói gì cả.

Lại nói chuyện Tấm chết hóa thành chim Vàng anh, chim bay một mạch về kinh đến vườn ngự. Thấy Cám đang giặt áo cho vua ở giếng, Vàng anh dừng lại trên cành cây, bảo nó:

- Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.

Rồi chim Vàng anh bay thẳng vào cung rồi đậu ở cửa sổ, hót lên rất vui tai. Vua đi đâu, chim bay đến đó. Vua đang nhớ Tấm không nguôi, thấy chim quyến luyến theo mình, vua bảo:

- Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo.

Chim vàng anh bay lại đậu vào tay vua rồi rúc vào tay áo. Vua yêu quý vàng anh quên cả ăn ngủ. Vua sai làm một cái lồng bằng vàng cho chim ở. Từ đó, ngày đêm vua chỉ mải mê với chim, không tưởng đến Cám.

Cám vội về mách mẹ. Mẹ nó bảo cứ bắt chim làm thịt ăn rồi kiếm điều nói dối vua. Trở lại cung vua, nhân lúc vua đi vắng, Cám bắt chim làm thịt nấu ăn rồi vứt lông chim ở ngoài vườn.

Thấy mất Vàng anh, vua hỏi, Cám đáp:

- Thiếp có mang, thèm ăn thịt chim, nên trộm phép bệ hạ đã giết thịt ăn mất rồi.

Vua không nói gì cả. Lông chim vàng anh chôn ở vườn hoá ra hai cây xoan đào. Khi vua đi chơi vườn ngự, cành lá của chúng sà xuống che kín thành bóng, như hai cái lọng. Vua thấy cây đẹp rợp bóng, sai lính hầu mắc vọng vào hai cây rồi nằm chơi hóng mát. Khi vua đi khỏi thì cành cây lại vươn thẳng trở lại. Từ đó, không ngày nào Vua không ra nằm hóng mát ở hai cây xoan đào.

Cám biết chuyện ấy lại về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi rồi kiếm điều nói dối vua. Về đến cung, nhân một hôm gió bão, Cám sai thợ chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Thấy cây bị chặt, vua hỏi thì Cám đáp:

- Cây bị đổ vì bão, thiếp sai thợ chặt làm khung cửi để dệt áo cho bệ hạ.

Nhưng khi khung cửi đóng xong. Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe thấy tiếng khung cửi rủa mình:

Cót ca cót két

Lấy tranh chồng chị.

Chị khoét mắt ra

Thấy vậy Cám sợ hãi, vội về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo đốt quách khung cửi, rồi đem tro đi đổ cho rõ xa để được yên tâm. Về đến cung, Cám làm như lời mẹ nói. Nó đem tro đã đốt đi đổ ở lề đường cách xa hoàng cung. Đống tro bên đường lại mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuê. Đến mùa có quả, cây thị chỉ đậu được có một quả, nhưng mùi thơm ngát tỏa ra khắp nơi. Một bà lão hàng nước gần đó có một hôm đi qua dưới gốc, ngửi thấy mùi thơm, ngẩng đầu nhìn lên thấy quả thị trên cành cao, bèn giơ bị ra nói lẩm bẩm:

- Thị ơi thị à, rụng vào bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn.

Bà lão nói vừa dứt lời, thì quả thị rụng ngay xuống đúng vào bị. Bà lão nâng niu đem về nhà cất trong buồng, thỉng thoảng lại vào ngắm nghía và ngửi mùi thơm.

Ngày nào bà lão cũng đi chợ vắng. Từ trong quả thị chui ra một cô gái thân hình bé nhỏ như ngón tay, nhưng chỉ trong chớp mắt đã biến thành Tấm. Tấm vừa bước ra đã cầm lấy chổi quét dọn nhà cửa sạch sẽ, rồi đi vo gạo thổi cơm, hái rau ở vườn nấu canh giúp bà hàng nước. Đoạn Tấm lại thu hình bé nhỏ như cũ rồi chui vào quả thị. Lần nào đi chợ về, bà lão cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm ngon, canh ngọt sẵn sàng, thì lấy làm lạ.

Một hôm bà hàng nước giả vờ đi chợ, đến nửa đường lại lén trở về, rình ở bụi cây sau nhà. Trong khi đó, Tấm từ quả thị chui ra rồi cũng làm việc như mọi lần. Bà lão rón rén lại nhìn vào khe cửa. Khi thấy cô gái xinh đẹp thì bà mừng quá, bất thình lình xô cửa vào ôm choàng lấy Tấm, đoạn xé vụn vỏ thị. Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương nhau như hai mẹ con. Hàng ngày Tấm giúp bà lão các việc thổi cơm, nấu nước, gói bánh, têm trầu để cho bà bán hàng.

Một hôm vua đi chơi ra khỏi hoàng cung, Thấy có quán nước bên đường sạch sẽ, bèn ghé vào. Bà lão mang trầu nước dâng lên vua. Thấy trầu têm cánh phượng, vua sực nhớ tới trầu vợ mình têm ngày trước cũng y như vậy, liền phán hỏi:

- Trầu này ai têm?

- Trầu này con gái lão têm - bà lão đáp.

- Con gái của bà đâu, gọi ra đây cho ta xem mặt.

Bà lão gọi Tấm ra. Tấm vừa xuất hiện, vua nhận ra ngay vợ mình ngày trước, có phần trẻ đẹp hơn xưa. Vua mừng quá, bảo bà lão hàng nước kể lại sự tình, rồi truyền cho quân hầu đưa kiệu rước Tấm về cung.

Cám Thấy Tấm trở về và được vua yêu thương như xưa, thì nó không khỏi sợ hãi. Một hôm, Cám hỏi chị:

- Chị Tấm ơi, chị Tấm! Chị làm thế nào mà đẹp thế ?

Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:

- Có muốn đẹp không để chị giúp !

Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Tấm sai đem xác làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon. Một con quạ ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà kêu rằng:

- Ngon ngỏn ngòn ngon ! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.

Mẹ Cám giận lắm, chửi mắng ầm ĩ rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy đầu lâu của con thì kinh hoàng lăn đùng ra chết.

== Hết ==
Ngày xửa ngày xưa, có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn hổ mang ra vào trong hang .

Một hôm, con rắn chồng bò ra khỏi hang một mình. Ông nhìn vào, thấy rắn vợ nằm cuộn ở trong. Vì mới lột nên mình mẩy của nó yếu ớt không cựa quậy được. Một lúc lâu rắn chồng bò trở về, miệng tha một con nhái đút cho vợ ăn .

Ít lâu sau, Dã Tràng lại thấy rắn vợ bò ra khỏi hang một mình. Lần này rắn chồng đến kỳ lột, nằm im thiêm thiếp, lốt da cũ còn bỏ lại bên hang. Hồi lâu, rắn vợ trở về, theo sau một con rắn đực khác khá lớn.

Dã Tràng thấy hai con bò đến cửa hang thì dừng lại rồi quấn lấy nhau như bện dây thừng. Một lát sau, con rắn đực một mình bò vào hang.

Dã Tràng biết con rắn đực này toan làm gì rồi. Ông cảm thấy tức giận, muốn trừ bỏ con rắn đó đi để cứu con rắn chồng đang lúc suy nhược. Lúc đó bên mình không có cái gì cả, ông bèn rút một mũi tên nhằm con rắn đực mới đến, bắn ngay một phát. Không ngờ mũi tên lại trúng vào đầu con rắn vợ chết tươi, còn con kia hoảng hồn chạy mất.

Dã Tràng nghĩ cũng thương con rắn cái, nhưng trong cái thương có lẫn cả giận, nên ông chán nản bỏ đi về nhà. Từ đó ông không thèm để ý đến hang rắn nữa. Chừng dăm bảy ngày sau, một hôm Dã Tràng nằm võng thuật chuyện vợ chồng con rắn cho vợ nghe và vui miệng, ông kể luôn những việc mình đã thấy và đã làm.

Ông kể vừa dứt lời thì bỗng nghe trên máng nhà có tiếng phì phì. Cả hai người hốt hoảng nhìn lên thì thấy có một con rắn hổ mang rất lớn, đuôi quấn lấy xà nhà, đầu vươn gần chỗ ông nằm, miệng nhả một viên ngọc. Ông vừa cầm lấy thì bỗng nghe được tiếng rắn nói :

- Ông là ân nhân mà tôi cứ ngỡ là kẻ thù. Mấy hôm nay tôi đợi ông trên máng này chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi . Nhưng hồi nãy nghe ông kể chuyện rõ ràng, tôi mới biết là lầm. Xin biếu ông viên ngọc nghe này. Đeo nó vào mình thì có thể nghe được mọi tiếng muông chim ở thế gian .

Từ kinh ngạc đến sung sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rời.

Một hôm, Dã Tràng đang hái rau, tự dưng có một bầy quạ đến đậu ở mấy ngọn cau nói chuyện lao xao. Chúng nó bảo Dã Tràng như thế này : "Ở núi Nam có một con dê bị hổ vồ. Hãy lên đó lấy về mà ăn nhưng nhớ để lòng lại cho chúng tôi với".

Dã Tràng làm theo lời quạ, quả thấy xác một con dê trên núi Nam. Ông xẻo lấy một ít thịt xâu lại xách về. Đến nhà, ông vội mách cho xóm giềng biết mà đi lấy, không quên dặn họ để bộ ruột dê lại cho bầy quạ. Nhưng ông không ngờ người trong xóm nghe tin ấy, đua nhau đi đông quá, thành ra họ lấy tất cả, chẳng chừa một tí gì.

Lũ quạ không thấy ruột dê, cho là Dã Tràng đánh lừa, bèn đổ xô đến vườn ông réo om sòm. Thấy vậy ông biết là người trong xóm đã làm hại mình, không giữ chữ tín với bầy quạ. Ông phân trần mấy lần nhưng bầy quạ không nghe, cứ đứng đó chửi mãi.

Tức mình, ông bèn lấy cung tên ra bắn vào chúng. Chủ ý là để đuổi chúng đi chứ không định giết. Chẳng ngờ bầy quạ thấy vậy cho là ông lấy oán trả ân, liền cắp mũi tên có tên Dã Tràng ở đuôi, tìm dịp báo thù. Lúc bay qua sông, thấy một cái xác chết trôi, đàn quạ bèn đem mũi tên ấy cắm vào yết hầu xác chết. Khi quan sở tại đến làm biên bản, thấy mũi tên, liền đoán Dã Tràng là thủ phạm, sai lính bắt ông, hạ ngục.

Dã Tràng bị bắt bất ngờ, hết sức kêu oan, nhưng mũi tên là một chứng cớ sờ sờ làm cho ông đuối lý, đành chịu chui đầu vào gông . Tuy nhiên, ông vẫn một mực xin quan xét giải ông về kinh để vua phân xử.

Từ đề lao tỉnh, ông bị điệu đi. Dọc đường trời tối, bọn lính dừng lại quán ăn uống và nghỉ ngơi. Dã Tràng cổ bị gông, chân bị xiềng nằm trên đống rơm buồn rầu không ngủ được. Lúc trời gần rạng, ông nghe có một đàn chim sẻ bay ngang đầu nói chuyện với nhau :

- Nhanh lên ! Chuyến này sẽ không lo đói nữa mà cũng chả sợ ai đánh đuổi cả.

Một con khác hỏi :

- Của ai mang đến bỏ vương vãi như thế ?

Con nọ trả lời :

- Của Vua nước bên kia. Họ toan kéo sang đánh úp bên này. Ngày hôm qua, quân đội giáo mác kéo đi liên miên không ngớt. Nhưng xe thóc vừa sắp đến biên giới thì bị sụp hầm đổ hết. Họ đang trở về lấy thứ khác cho nên chúng ta tha hồ chén.

Nghe đoạn, chờ lúc bọn lính thúc dục lên đường, Dã Tràng bảo họ :

- Xin các ông bẩm lại với quan rằng việc oan uổng và nhỏ mọn, không nên bận tâm, mà giờ đây chỉ nên lo việc quốc gia trọng đại thôi, và còn cấp bách nữa là khác.

Bọn lính tra gạn ông mãi nhưng ông không nói gì thêm, chỉ nài rằng hễ có mặt quan, mình mới tỏ bày rõ ràng.

Khi gặp mấy vị quan đầu tỉnh, Dã Tràng liền cho họ biết rằng Hiến Đế ở phương bắc đã sai tướng cầm quân sang đánh úp nước mình. Hiện họ đang đóng quân đầy ở biên giới, chỉ vì bị sụp hầm, xe lương đổ hết, chưa tấn công được. Bây giờ họ đang vận thêm lương, chờ đầy đủ sẽ vượt cửa ải sang Nam.

Bọn quan tỉnh lấy làm lo lắng nhưng cũng cố hỏi ông có dám chắc như vậy không. Dã Tràng chỉ vào đầu mình mà đoan rằng nếu có sai, ông sẽ xin chịu chết. Nhưng nếu lời của ông đúng thì xin bề trên thả ra cho.

Ngay lúc đó, những tên quân do thám được tung đi tới tấp mọi ngõ để lấy tin. Và nội ngày hôm sau, Dã Tràng được thả vì lời mách của ông quả không sai và vừa vặn đúng lúc để chuẩn bị đối phó với địch.

Được tha, Dã Tràng đi bộ lần về quê nhà. Bóng chiều vừa ngả, ông mới đến vùng Hồng Hoa. Ông tìm vào nhà người bạn rất thân là Trần Anh nghỉ chân.

Gặp lại bạn cũ, vợ chồng Trần Anh vui mừng khôn xiết. Nghe tin ông bị tra tấn giam cùm và suýt mất đầu, hai vợ chồng rất cảm thương bạn. Thấy bữa ăn tối thết bạn không có gì, Trần Anh xuống bếp bảo vợ :

- Bạn ta đến, lại gặp lúc trong nhà chả có gì ăn. Sẵn có cặp ngỗng, con nó đã khôn, ta làm thịt một con, ngày mai đãi bạn lên đường.

Người vợ bằng lòng nhưng dặn chồng sáng sớm bắt ngỗng và cắt tiết vặt lông giúp mình một tay.

Trong khi hai vợ chồng bàn tính thì cặp ngỗng ở ngoài chuồng nghe được câu chuyện. Ngỗng trống bảo ngỗng mái :

- Mình ơi ! Mình hãy ở lại nuôi con, tôi sẽ đứng sẵn cho chủ nó bắt. Ngỗng mái không nghe, xin chết thay cho chồng. Nhưng ngỗng trống nhất quyết hy sinh, nên chạy ra sân từ giã đàn con :

- Con ơi ! Các con ở lại với mẹ nghe. Cha sẽ không bao giờ gặp lại các con nữa.

Song ngỗng mái vẫn lạch bạch chạy theo, đòi chết thay chồng cho bằng được.

Lúc bấy giờ Dã Tràng nằm trên bộ ván đặt kề cửa sổ nên nghe được tiếng ngỗng than thở. Ông bỗng thấy thương con vật vô tội chỉ vì mình mà phải lìa đàn con bé bỏng. Ông toan nói trước với bạn, nhưng thấy bất tiện. Ông đành nghe ngóng ở chỗ chuồng ngỗng chờ lúc bạn ra bắt thì sẽ cản lại.

Suốt đêm hôm đó tuy mệt mà ông không dám ngủ. Quả nhiên, vào khoảng canh tư, Trần Anh thức dậy bước ra chuồng. Ngỗng trống xua ngỗng mái chạy rồi vươn cổ để cho bắt. Trần Anh sắp cắt cổ ngỗng thì Dã Tràng đã lật đật chạy xuống bếp nắm lấy đao. Ông nói :

- Xin bạn thả nó ra. Tính tôi không hay sát sinh. Tình thân của đôi ta lọ phải cỗ bàn mới thân. Nếu bạn giết nó thì tôi lập tức đi khỏi chỗ này.

Thấy bạn có vẻ quả quyết, Trần Anh đành thả ngỗng ra, rồi giục vợ chạy đi mua tép về đãi bạn.

Cơm nước xong, Dã Tràng từ giã bạn lên đường về nhà. Đến ao, ông đã thấy vợ chồng ngỗng cùng với bầy con đứng chực ở đấy. Ngỗng đực tặng Dã Tràng một viên ngọc và nói :

- Đa tạ ân nhân cứu mạng. Không biết lấy gì báo đền, chúng tôi xin tặng người viên ngọc này, mang nó vào người có thể đi được dưới nước dễ dàng không khác gì trên bộ. Nếu đem ngọc này xuống nước mà khoắng thì sẽ rung động đến tận đáy biển.

Ngỗng lại nói tiếp :

- Còn như con tép là vật đã thế mạng chúng tôi thì từ nay, dòng dõi chúng tôi sẽ xin chừa tép ra không ăn, để tỏ lòng nhớ ơn !

Dã Tràng không ngờ có sự báo đáp quá hậu như thế, sung sướng nhận lấy ngọc rồi về.

Khi đến bờ sông, Dã Tràng muốn thử xem công hiệu của viên ngọc mới, liền cứ để nguyên áo quần đi xuống nước. Thì lạ thay, nước rẽ ra thành một lối cho ông đi thẳng xuống đáy sông . Ông dạo cảnh hồi lâu rồi cầm viên ngọc khoắng vào nước nhiều lần để thử xem thế nào.

Hôm đó, Long Vương và các triều thần đang hội họp ở thủy phủ bỗng thấy nhà cửa lâu đài và mọi kiến trúc khác bỗng nhiên rung động, cơ hồ muốn đổ. Ai nấy đều nháo nhác không hiểu duyên cớ. Vua lập tức truyền cho bộ hạ đi dò la sự tình.

Bộ hạ Long Vương theo con đường sóng ngầm lọt vào cửa sông thì thấy Dã Tràng đang cầm ngọc khoắng vào nước. Mỗi lần khoắng như thế, họ cảm thấu xiêu người nhức óc. Tuy biết đích là thủ phạm, họ cũng không dám làm gì, chỉ tiến đến dùng lời nói khéo mời ông xuống chơi thủy phủ.

Gặp Long Vương, Dã Tràng cho biết đó là mình chỉ mới làm thử để xem phép có hiệu nghiệm chăng. Long Vương và triều thần nghe nói, ai nấy đều xanh mặt. Nếu hắn làm thật thì thế giới thủy phủ sẽ còn gì nữa ! Vì thế, Long Vương đãi Dã Tràng rất hậu. Ông muốn gì có nấy. Cho đến lúc ông ra về, Long Vương còn đem vàng bạc tống tiễn rất nhiều để mong nể mặt.

Dã Tràng lên khỏi nước có bộ hạ của Long Vương tiễn chân về tới tận nhà mới trở lại. Bà con xóm giềng thấy ông đã không việc gì mà lại trở nên giàu có thì ai cũng lấy làm mừng cho ông . Từ đó Dã Tràng rất quý hai viên ngọc. Ông may một cái túi đựng chúng và luôn luôn đeo ở cổ.

Một hôm Dã Tràng đi bộ nửa ngày đường đến nhà một người bà con ăn giỗ. Lúc đến nơi Dã Tràng sờ lên cổ giật mình mới nhớ ra vì vội vàng quá nên ông đã bỏ quên mất túi ngọc ở nhà. Ông thấy không thể nào an tâm ngồi ăn được. Mọi người đều lấy làm ngạc nhiên thấy ông vừa chân ướt chân ráo đến nơi đã vội cáo từ về ngay.

Nhưng khi về đến nhà, ông tìm mãi vẫn không thấy túi ngọc đâu cả. Ông rụng rời cả người. Đi tìm vợ, vợ cũng không thấy nốt. Nóng ruột, ông lục lọi khắp nơi. Cuối cùng ông bắt được một mảnh giấy do vợ ông viết để lại gài ở chỗ treo áo.

Trong đó, vợ ông nói rằng có người của Long Vương lên bảo cho biết hễ ai bắt được túi ngọc đưa xuống dâng Long Vương thì sẽ được phong làm hoàng hậu. Bởi vậy bà ta đã trộm phép ông, đưa túi ngọc xuống thủy phủ rồi, không nên tìm làm gì cho mệt.

Đọc xong thư vợ. Dã Tràng ngất đi. Ông không ngờ vợ ông lại có thể như thế được. Ông cũng không ngờ âm mưu của Long Vương thâm độc đến nước ấy. Nghĩ đến hai thứ bảo vật, ông tức điên ruột.

Sau cùng, ông dự tính chở cát lấp biển thành một con đường đi xuống thủy phủ để lấy lại túi ngọc vì ông còn nhớ cả đường lối đến cung điện của Long Vương. Mặc dầu mọi người can ngăn, ông cũng không nghe, bèn dọn nhà ra bờ biển làm công việc đó.

Ngày ngày ông xe cát chở đến bờ quyết lấp cho bằng được. Cho tận đến chết, Dã Tràng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Chết rồi ông hóa thành con còng còng hay cũng gọi là con Dã Tràng ngày ngày xe cát để lấp biển. Tục ngữ có câu :

Dã Tràng xe cát biển Đông .
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.

Hay là :

Công Dã Tràng hàng ngày xe cát,
Sóng biển dồn tan tác còn chi .

Hay là :

Con còng còng dại lắm không khôn .
Luống công xe cát sóng dồn lại tan .

Người ta nói ngày nay loài ngỗng sở dĩ không bao giờ ăn tép là vì chúng nó nhớ ơn loài tép đã thế mạng cho tổ tiên mình ngày xưa. Họ còn nói loài ngỗng có một cái mào trắng trên đầu là dấu hiệu để tang cho Dã Tràng để nhớ ơn cứu mạng.

== Hết ==

Đọc nhiều nhất

Lượt truy cập